
Bộ Y tế đề xuất tăng mức trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội từ 1-7 - Ảnh: TTO
Hồ sơ thẩm định Nghị định của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội vừa được Bộ Tư Pháp công bố. Dự thảo tờ trình và nghị định do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo.
Tăng mức trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí
Theo đó, dự thảo nghị định được xây dựng trên cơ sở bổ sung, hợp nhất theo các quy định hiện hành.
Theo dự thảo, Bộ Y tế đề xuất tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội từ ngày 1-7-2026.
Theo Bộ Y tế, mức chuẩn trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội hiện còn thấp, chưa đáp ứng mức sống tối thiểu. Mức chuẩn 500.000 đồng/tháng hiện chỉ tương đương khoảng 22,7% chuẩn nghèo nông thôn và 17,8% chuẩn nghèo đô thị.
Đồng thời, việc điều chỉnh này được đặt ra trên cơ sở mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng và tăng 8% mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và trợ cấp xã hội từ ngày 1-7-2026.
Vì vậy, Bộ Y tế đề xuất mức chuẩn trợ giúp xã hội được đề xuất tăng 8%, nâng từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng. Đây là mức làm căn cứ để tính trợ cấp xã hội hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ chăm sóc - nuôi dưỡng và nhiều chính sách trợ giúp khác.
Dự thảo vẫn giữ nguyên các hệ số hưởng trợ cấp hiện nay. Như vậy, khi mức chuẩn tăng lên 540.000 đồng/tháng, mức tiền thực nhận của các nhóm bảo trợ xã hội cũng sẽ tăng tương ứng.
Dự thảo cũng quy định chính sách trợ cấp hưu trí xã hội cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Theo đó, công dân Việt Nam từ đủ 75 tuổi trở lên sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội nếu không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc đang hưởng mức thấp hơn mức trợ cấp hưu trí xã hội.
Người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo cũng thuộc diện được hưởng chính sách này nếu đáp ứng điều kiện theo quy định.
Ngoài ra, dự thảo bổ sung trường hợp trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại "không xác định được" để phù hợp với Luật Nuôi con nuôi.
Đơn giản hóa thủ tục
Hiện nay, hồ sơ xét trợ cấp xã hội gồm nhiều loại tờ khai khác nhau. Dự thảo đề xuất gộp thành một mẫu tờ khai chung nhằm giảm giấy tờ, tạo thuận lợi cho người dân và cơ quan quản lý.
Thẩm quyền giải quyết trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội và hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ được giao trực tiếp cho chủ tịch UBND cấp xã. Thời gian giải quyết hồ sơ cũng được rút ngắn từ 10 ngày làm việc xuống còn 7 ngày làm việc, giảm khoảng 30% thời gian xử lý thủ tục.
Ngoài ra, dự thảo bổ sung rõ các trường hợp bị tạm dừng hoặc thôi hưởng trợ cấp xã hội. Trong đó, người không nhận trợ cấp liên tục từ 3 tháng trở lên hoặc không chấp hành việc xác minh, xác định lại điều kiện hưởng có thể bị tạm dừng chi trả.
Người đã chết, mất tích, không còn đủ điều kiện hưởng, chấp hành án phạt tù hoặc từ chối nhận trợ cấp sẽ bị thôi hưởng chính sách.
Liên quan chính sách mai táng phí, dự thảo mở rộng thêm nhóm được hỗ trợ. Theo đề xuất của Bộ Y tế, người từ đủ 75 tuổi đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hằng tháng và người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng cũng sẽ được hỗ trợ chi phí mai táng khi qua đời.
Mức hỗ trợ tối thiểu giữ nguyên bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội. Dự thảo gộp các quy định về trợ giúp khẩn cấp do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn… vào một điều thống nhất để dễ áp dụng.
Các mức hỗ trợ cơ bản được giữ nguyên như hiện hành, gồm hỗ trợ gạo cứu đói, hỗ trợ người bị thương nặng, hỗ trợ chi phí mai táng, hỗ trợ làm mới hoặc sửa chữa nhà ở bị sập, hư hỏng do thiên tai, hỏa hoạn.
Theo đó hộ nghèo, cận nghèo hoặc hộ khó khăn có nhà bị sập hoàn toàn có thể được hỗ trợ tối thiểu 40 triệu đồng để làm nhà ở; trường hợp phải di dời khẩn cấp được hỗ trợ tối thiểu 30 triệu đồng; nhà hư hỏng nặng được hỗ trợ sửa chữa tối thiểu 20 triệu đồng.
Theo Bộ Y tế, năm 2025 cả nước có khoảng 4,5 triệu người hưởng trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng.
Với khoảng 4,5 triệu đối tượng thụ hưởng, dự kiến kinh phí ngân sách nhà nước chi tăng thêm mỗi tháng là 304 tỉ đồng, ngân sách nhà nước năm 2026 chi tăng thêm là 1.824 tỉ đồng (thực hiện từ 1-7-2026).
Mức chi này nằm trong khả năng phân bổ của ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030. Ngân sách địa phương tự bảo đảm đối với các trường hợp nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội và mở rộng đối tượng thụ hưởng.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận