01/09/2009 22:30 GMT+7

"Vương quốc tỏi" trên đảo khát

KIM EM - MINH THU
KIM EM - MINH THU

TT - Nằm lọt thỏm giữa biển khơi mênh mông, khí hậu quanh năm khắc nghiệt, việc đào giếng tìm nguồn nước ngọt gặp nhiều khó khăn nên cái tên “Đảo khát” luôn là nỗi ám ảnh thường trực của hơn 4.000 hộ với 21.000 dân đang sinh sống ở huyện đảo Lý Sơn.

Nước uống cho người đã khó, nước tưới cho cây tỏi càng khó gấp bội, vậy mà cây tỏi Lý Sơn vẫn vượt qua nắng cháy, đem cái tinh túy nhất của mình dâng cho đời.

gmBF5Wdd.jpgPhóng to
Nước ngọt khan hiếm nên dân ở đảo Lý Sơn thường tắm trong thau và tận dụng nước bẩn để lau nhà, giặt giũ - Ảnh: M.Thu

Kỳ 1: Chinh phục biển khơi Kỳ 2: Vì nước quên thânKỳ 3:Sống chết cùng với biển

Giọt nước quý như vàng

Toàn huyện Lý Sơn có 277ha đất trồng hành, tỏi; trung bình mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 2.000 tấn tỏi khô, 3.500 tấn củ hành. Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - công nghệ) đã trao giấy chứng nhận thương hiệu hành, tỏi Lý Sơn song đầu ra vẫn còn lắm bấp bênh. Theo ông Nguyễn Xuân Huyện - chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, huyện đang rất cần những người có đủ khả năng để kinh doanh hai loại sản phẩm này có hiệu quả.

“Xung quanh bốn bề là biển nên việc đào giếng tìm mạch nước ngọt ở Lý Sơn cực lắm”, ông Dương Văn Kiên - 62 tuổi, ở thôn An Vĩnh - than thở. Bà con đào hàng chục cái giếng rồi cuối cùng phải bỏ vì đào đến đâu cũng gặp nước nhiễm mặn. Chỉ duy nhất có giếng vương nằm sát bên biển (dân địa phương còn gọi là giếng vua ban, hay giếng só la) không bao giờ cạn.

Một cái giếng mà lại quá nhiều người chờ chực để múc, dân làng đành nhờ một vài người múc hộ, gánh về nhà và trả công. Vậy là nghề phu nước ở Lý Sơn ra đời và tồn tại từ nhiều đời nay.

Vợ chồng ông Mai Văn Thu và bà Bùi Thị Lên ở thôn Đông sớm giã từ nghề biển ở tuổi sung sức 30, bệnh tật đã níu cuộc sống vợ chồng ông rơi vào cảnh túng quẫn, nghèo khó. Căn bệnh thần kinh làm mắt ông Thu ngày càng kém dần, chân co rút phải bước đi lại khập khiễng.

Từ hơn sáu năm qua, thương chồng bệnh tật, bà Lên lặng lẽ thức dậy từ tờ mờ sáng xuống giếng vương chờ múc từng gàu nước đổ đẩy từng can nhựa, rồi phụ chồng đẩy xe thồ vượt qua nhiều con dốc, ngõ hẻm đưa dòng nước ngọt đến tận nhà dân trên đảo. Trung bình mỗi ngày vợ chồng ông Thu đi bộ thồ ba chuyến xe chở 15 can nhựa (tương đương 450 lít nước), vượt chặng đường dài tổng cộng khoảng 30km đưa nước ngọt bán ở khắp ngõ ngách trên đảo.

Thương bà con cơ cực, năm 2007 vợ chồng bà Đặng Thị Sính ở thôn Tây, xã An Vĩnh, đã mua vật liệu xây bể chứa 20m3 nối đường ống dài khoảng 6km, đặt bảy máy bơm nối tiếp từ giếng nước ngọt ở gần trạm biên phòng 328 đưa nước về bể dự trữ cung ứng cho khoảng 100 hộ dân trong thôn. Bà Sinh cho hay bà con trong thôn phụ thêm tiền nhiên liệu, công chạy máy bơm khoảng 10.000 đồng/m3. Tuy nhiên do nguồn nước thiếu thốn, hằng ngày bể chứa nước của bà Sính chỉ có thể mở van cấp nước cho bà con ngày hai lần từ 6g-9g sáng và 2g-4g chiều.

Dù chật vật múc từng gàu nước nhưng cư dân đảo Lớn vẫn còn có nước giếng để dùng, trong khi ở đảo Bé (xã An Bình), hơn 100 hộ dân với gần 500 người chủ yếu nhờ vào nước mưa dự trữ. Ở đảo Bé, nhà nào cũng nối ống nước chằng chịt từ trên mái nhà xuống miệng các lu, bể chứa. Ông Nguyễn Luân - dân đảo Bé - kể nước mưa được trữ trong lu dùng cho cả năm nên rất tiết kiệm, giọt nước ngọt trên hòn đảo nhỏ này quý như vàng.

Mùa nắng dân làng ra biển tắm, về nhà đứng trong thau lớn múc từng ca nước ngọt giội lại. Nước bẩn hứng trong thau đem giặt đồ, lau nhà rồi tưới rau. Do ở đảo Bé không đào được giếng nước ngọt nên sản xuất nông nghiệp chủ yếu nhờ nước trời. Những tháng nắng nóng, nước mưa dự trữ trong lu bể cạn kiệt rất nhanh. Ăn tiêu dè sẻn, các hộ dân góp tiền hợp đồng với tàu công suất nhỏ chở nước ngọt từ đảo Lớn sang.

“Vương quốc tỏi”

Những năm 1960 là thời hoàng kim của cây tỏi trên đất đảo Lý Sơn, mỗi nhà trồng tỏi chỉ mang chừng vài tạ tỏi khô vào đất liền bán là rủng rỉnh trong túi cả lượng vàng. Cây tỏi lên ngôi và Lý Sơn có biệt danh “vương quốc tỏi” từ đó. Do đặc thù thổ nhưỡng, khí hậu khắc nghiệt ở huyện đảo Lý Sơn, hằng năm trước khi vào vụ trồng tỏi người dân Lý Sơn thường chạy đôn chạy đáo tìm cát để đưa về ruộng, rẫy dùng lớp cát mới thay lớp cát cũ.

wbyDmjaB.jpgPhóng to
Người dân Lý Sơn phân loại tỏi tươi vừa thu hoạch - Ảnh: M.Thu
vMGafa4I.jpgPhóng to
Cát biển được ủ thành từng vuông trên ruộng tỏi để giảm độ mặn chuẩn bị cho một vụ xuống giống mới - Ảnh: Minh Thu

Ông Phạm Thoại Tuyền - một trong những người trồng tỏi ở thôn Đông, xã An Vĩnh - lý giải: có thay lớp cát mới cho rẫy thì rễ cây tỏi mới có độ bám, đủ độ ẩm cần thiết thì củ tỏi mới nở to. Cát biển giàu chất vôi khúc xạ với ánh nắng mặt trời, người dân lại dùng nước biển hòa tan với phân hữu cơ bón cho cây nên tỏi ở Lý Sơn thơm và cay hơn nhiều nơi khác.

Những năm gần đây nguồn cát ven bờ cạn kiệt, người dân phải ra biển hút cát đưa vào bờ. Hằng năm vào tháng 8 âm lịch, người trồng tỏi Lý Sơn mới bắt đầu xuống giống, nhưng họ đã chuẩn bị nguồn cát biển để thay lớp cát cũ trên rẫy từ sau Tết Đoan ngọ. Hằng ngày từ mờ sáng, vợ chồng ông Trương Văn Phi đã nổ máy đưa chiếc bè xốp, xung quanh đan bằng mành tre, khoang chứa khoảng 2m3 cát ra cách bờ hơn 2 hải lý để hút cát.

Trung bình mỗi ngày ông Phi phải ngâm mình trong nước khoảng năm giờ để định vị ống hút cát dưới đáy biển bơm vào khoang chứa trong bè, và định vị ống hút bơm cát từ bãi trung chuyển lên bờ. Sau đó đợi nước biển rút, các xe tải đến xúc đưa lên xe chở đổ dọc các con đường vào rẫy.

Tùy theo rẫy xa hay gần, tại đây, một lần nữa người dân thuê nhân công xúc cát đưa vào các thùng phuy nhựa chở đổ vào rẫy và bắt đầu công đoạn làm đất. Ông Trương Quang Quả - người có thâm niên trồng tỏi ở thôn Đông, xã An Hải - cho hay tiết kiệm lắm mỗi vụ tỏi cũng phải mua năm xe cát (khoảng 20m3 cát), tùy thời điểm biển êm hay động, mỗi mét khối cát chuyển vào đến rẫy có lúc lên đến 120.000 đồng.

Ở đảo Lớn còn trông dựa nguồn cát được hút đưa lên các bè xốp tự tạo ở ngoài biển chuyển vào, còn ở đảo Bé trước mỗi vụ tỏi người dân chỉ biết “bòn vét” chút cát còn sót lại ở các bờ bãi, xúc đổ dồn vào bao đội đưa lên rẫy. Theo ước tính của UBND huyện Lý Sơn, với khoảng 277ha đất trồng tỏi hằng năm nông dân Lý Sơn phải cần đến khoảng 17.000m3 cát để thay lớp cát cũ tạo độ ẩm cho cây tỏi phát triển.

Chuyện “chạy cát” đã nhọc nhằn, để có nước tưới cho cây tỏi là cả một kỳ công. Bà con trên đảo dùng máy nổ chạy dầu diesel bơm nước từ các giếng cạn tưới cho cây tỏi. Bà Trần Thị Ân ở thôn Tây, xã An Vĩnh cho hay nếu trời mưa thì mỗi vụ tỏi tưới nước khoảng 10 lần, còn không mưa phải tưới đến 20 lần. Mỗi sào tỏi tưới mất một giờ trả tiền thuê máy nổ và tiền dầu khoảng 100.000 đồng. Rẫy tỏi càng xa thì nhiên liệu chạy máy nổ càng nhiều. Từ giếng nước đến ruộng tỏi dài mấy cây số có khi phải nối ống qua năm sáu máy bơm thì mới đủ mạnh bơm nước đến rẫy.

Mấy năm gần đây làm nghề biển khó khăn do giá nhiên liệu tăng, ông Phạm Văn Hảo ở thôn Đông bỏ nghề biển lên bờ thuê đất của người dân trên đảo để trồng hành, tỏi. Với 17 sào tỏi, mỗi năm ông Hảo phải dùng khoảng 3.000 lít dầu diesel chạy máy nổ tưới nước cho rẫy tỏi. Những năm mùa khô hạn hầu như phải thức đêm, thắp đèn măng sông chờ mạch nước để bơm nước tưới. Ông Hảo tâm sự: “Nghề trồng tỏi cơ cực trăm bề nhưng thu nhập hằng năm không đáng là bao, được mùa thì mất giá, mất mùa thì được giá”.

__________________

Huyện đảo Lý Sơn cách quần đảo Trường Sa hơn 430 hải lý. Xa cách nghìn trùng sóng nước là thế mà từ lâu người dân huyện đảo này đã gắn bó keo sơn với vùng biển Trường Sa như chính sự sống của mình.

Kỳ tới: Nghĩa tình Lý Sơn - Trường Sa

........................................................................................................................................

Ý kiến bạn đọc:

* Đọc loạt bài “Lý Sơn – nơi đầu sóng ngọn gió” trên Tuổi Trẻ Online vào những ngày mừng tết Độc lập năm nay, lòng tôi xúc cảm khó tả. Hóa ra giữa lúc chúng ta đang sống ở đất liền với nhiều điều kiện thuận lợi trong cuộc sống, thì bà con ở Lý Sơn vẫn còn phải vất vả nhiều. Họ là những người đang ở đầu sóng ngọn gió, mang trong mình những xúc cảm rõ nét về khái niệm đất nước và tổ quốc khi ở nơi xa. Tôi nghĩ chúng ta cần có thêm nhiều chính sách ưu tiên cho bà con ở đó cũng như nhiều chính sách kinh tế - xã hội để phát triển vùng đất đó.

Nguyễn Kim Thành (Đà Nẵng)

* Tôi là một người con được sinh ra từ Quảng Ngãi - vùng đất mà người ta gọi là mảnh đất khô cằn sỏi đá, vùng đất yêu thương với bao chiến tích hào hùng của hai cuộc chiến tranh đã đi qua trên mảnh đất này.

Tôi được may mắn là được sống trong đất liền, song tôi rất cảm thông với những số phận của những bà con đang sống trên huyện đảo Lý Sơn. Họ là những người rất chịu thương chịu khó, chính họ chứ không ai khác đã làm nên tên tuổi Lý Sơn như ngày hôm nay. Tôi thiết nghĩ chính quyền và nhân dân Quảng Ngãi có thêm nhiều chính sách quan tâm hơn cho bà con ở Lý Sơn, hay nói đúng hơn là cho vùng đất đầy tiềm năng này của tỉnh Quảng Ngãi.

KIM EM - MINH THU
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất