
Kinh tế tăng trưởng, người dân tự tin tìm hiểu mua sắm, thúc đẩy dịch vụ phát triển - Ảnh: TRƯƠNG LINH
Giải pháp để đạt mục tiêu cũng rõ ràng và nhất quán: cải cách thể chế thực chất, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và bảo đảm an ninh -quốc phòng.
Liệu Việt Nam có khả năng làm được điều đó hay không, khi GDP trên đầu người hiện đã vượt 5.000 USD? Tôi cho rằng đã từng có một số nước làm được trong quá khứ (với mức GDP trên đầu người tương đương hiện nay) như Nhật Bản (giai đoạn 1964-1968), Hàn Quốc (1983-1988), Singapore (1966-1973), Trung Quốc (2006-2010) và gần nhất là Ireland (2015-2019)... nên điều đó hoàn toàn có khả năng xảy ra với Việt Nam.
Vậy công thức tăng trưởng cao của tất cả các quốc gia đó là gì?
Trên hết thảy, muốn tăng trưởng nhanh thì phải huy động được nhiều vốn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa cho biết giai đoạn phát triển mới cần khoảng 38 triệu tỉ đồng (gấp gần 3 lần GDP năm 2025), trong đó vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỉ đồng (22,4%). Phần còn lại dĩ nhiên phải đến khu vực tư nhân và khu vực FDI.
Dễ thấy lượng vốn đó không phải đến từ một doanh nghiệp, một cá nhân mà đến từ nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau. Họ có thể huy động từ nhiều tổ chức, cá nhân khác nữa, kể cả từ nước ngoài. Và rất có thể, cuối cùng sẽ có 1.000 USD huy động được từ sổ tiết kiệm của một bà lão nào đó đang sống ở Nunavut (cực bắc Canada)!
Vậy làm thế nào để một bà lão ở Nunavut bỏ ra 1.000 USD đầu tư vào một dự án ở Cần Giờ kéo dài trong 20 năm, nơi mà bà ấy không biết ở đâu và rất có thể khi hoàn thành thì bà lão ấy đã không còn nữa?
Câu trả lời là niềm tin. Rất có thể là vì bà ấy đã tin tưởng vào quỹ tín thác X nơi bà ấy gửi tiền tiết kiệm. Quỹ tín thác ấy lại tin quỹ đầu tư Y ở Canada, quỹ đầu tư Y lại tin tưởng vào Terminal Investment Limited Holding S.A là nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào dự án cảng Cần Giờ...
Niềm tin sẽ xâu chuỗi những con người xa lạ, khiến cho những đồng vốn quý báu chảy đến Việt Nam.
Và trong thời gian vừa qua, chúng ta thấy những nhà lãnh đạo Việt Nam đã tích cực, chủ động thăm hỏi các quốc gia trên khắp thế giới, từ các nước láng giềng đến các cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc, các nước châu Âu, Trung Đông, Nam Mỹ. Mục đích cũng rất rõ ràng, muốn chính phủ, các nhà đầu tư, người dân của các nước trên thế giới tin tưởng Việt Nam, đến Việt Nam và đầu tư vào Việt Nam.
Nhưng niềm tin không đơn giản mà có được. Mọi nhà đầu tư thận trọng, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn, sẽ phải tự tiếp cận những kênh thông tin khác nhau để đánh giá. Họ sẽ nhìn vào cách nhà nước ứng xử với người dân trong nước; người dân ứng xử với nhau... Điểm mấu chốt mà nhà đầu tư muốn rút ra từ các quan sát là liệu các ứng xử ở Việt Nam có dựa trên luật lệ phổ quát hay không?
Trong khi đó, chỉ số Hệ thống pháp luật và quyền sở hữu của Việt Nam trong Bộ chỉ số tự do kinh tế thế giới 2025 của Fraser xếp hạng cho năm 2023 vẫn chỉ ở mức trung bình 5,3/10, cải thiện đôi chút so với mức 4,79 điểm vào năm 2005.
Nhưng tôi nhìn thấy có một nhân tố mới mang lại hy vọng từ kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam: lẽ công bằng. Đây là nhân tố luật lệ phổ quát mà các nhà đầu tư nước ngoài thực sự muốn thấy.
Nếu như kinh tế thị trường là nhân tố phổ quát mà quá trình đổi mới của Việt Nam đã phát hiện ra, thì từ quan điểm của tôi, lẽ công bằng chính là nhân tố phổ quát sẽ được thực hiện trong thời gian tới.
Vấn đề còn lại có lẽ chỉ là liệu thế hệ hiện nay có đủ trí tuệ và bản lĩnh để đưa lẽ công bằng trở thành trụ cột chính điều chỉnh mọi văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nếu được như thế, niềm tin và kéo theo là vốn, sẽ tự tìm đến Việt Nam.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận