Vô sinh không phải vô phương cứu chữa

05/03/2018 11:52 GMT+7

Tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng ở Việt Nam đang ngày càng tăng lên ở mức đáng báo động là cảnh báo của các chuyên gia sản phụ khoa.

Vô sinh không phải vô phương cứu chữa - Ảnh 1.

Bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Ảnh minh họa. Nguồn: institutocefer.com

Nguyên nhân dẫn tới gia tăng tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam chính là hậu quả của viêm nhiễm đường sinh sản, của việc nạo phá thai. Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ tình trạng quan hệ tình dục thiếu an toàn.

Nếu không có sự can thiệp của y tế, nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn không sinh được con. Đáng nói, rất nhiều cặp vợ chồng Việt Nam trong tình trạng hiếm muộn nhưng vẫn lạc quan, không tìm kiếm việc điều trị nhằm cải thiện cơ hội có thai.

Báo động tình trạng vô sinh

Tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng ở Việt Nam đang ngày càng tăng lên ở mức đáng báo động là cảnh báo chung của các chuyên gia trong lĩnh vực sản phụ khoa. Điều mà các chuyên gia lo ngại chính là rất nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn không "chịu" đi khám và chữa bệnh sớm, đặc biệt là các ông chồng, nhằm cải thiện những cơ hội có thai.

Cơ hội có con của các cặp vợ chồng Việt Nam giảm còn xuất phát từ nhận thức kém về sinh sản và nguyên nhân hiếm muộn. 48% phụ nữ Việt Nam được khảo sát không biết rằng phụ nữ ở tuổi 40 có ít cơ hội có thai hơn ở tuổi 30. 

75% phụ nữ không biết béo phì có thể làm giảm khả năng sinh sản. 60% không biết rằng người phụ nữ không có kinh nguyệt thì không còn khả năng sinh sản. 

56% không biết rằng người đàn ông có thể vô sinh ngay cả khi anh ta có thể sản xuất tinh trùng. 45% không biết rằng đàn ông có thể vô sinh dù anh ta có thể đạt được sự cương dương. 

Đặc biệt, 54% các cặp vợ chồng được xem là vô sinh nếu họ không có thai sau 1 năm cố gắng. 

Thực tế này đặt ra cho Việt Nam cần có những hoạt động thiết thực giúp các cặp vợ chồng hiểu biết về tình trạng vô sinh, nguyên nhân gây nên tình trạng vô sinh và đặc biệt là gia tăng hiểu biết về những vấn đề sinh sản nam giới.

Khi nào cần điều trị

Một cặp vợ chồng được xem là vô sinh nếu họ không có thai sau một năm cố gắng bằng biện pháp tự nhiên. Trong trường hợp này, các chuyên gia khuyên rằng, các cặp vợ chồng cần đến các cơ sở chuyên khoa sinh sản để được khám, tư vấn và điều trị càng sớm càng tốt. 

Dựa vào nguyên nhân gây vô sinh, chu kỳ, nội tiết của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ tiến hành làm những xét nghiệm, thăm dò và đưa ra biện pháp điều trị thích hợp cho từng trường hợp cụ thể.

Có rất nhiều nguyên nhân gây vô sinh. Vô sinh có thể do nam giới hoặc nữ giới hoặc do cả hai vợ chồng. Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến vô sinh ở phụ nữ là viêm nhiễm đường sinh dục gây tắc vòi tử cung. 

Một nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, vô sinh do tắc vòi tử cung chiếm tỷ lệ khá cao 40,7% trong các nguyên nhân gây vô sinh. Trong đó nhóm có nạo hút thai thì nguy cơ tắc vòi tử cung tăng gấp 2,59 lần so với nhóm chưa nạo hút thai lần nào; nhóm viêm nhiễm đường sinh dục thì nguy cơ tắc vòi tử cung tăng gấp 2,56 lần so với không có viêm đường sinh dục. 

Nguyên nhân phổ biến nhất gây vô sinh ở nam giới là bất thường về số lượng và chất lượng tinh trùng. Nam giới đóng vai trò rất quan trọng trong vô sinh. Tuy nhiên, tự nhận mình là phái mạnh, nam giới thường đổ lỗi nguyên nhân gây ra vô sinh là phụ nữ. Đàn ông có thể vô sinh ngay cả khi có thể sản xuất ra tinh trùng hoặc vẫn cương dương.

Hiện nay, công tác điều trị vô sinh mất rất nhiều thời gian. Trường hợp nhẹ thì điều trị mất khoảng 1-2 tháng, trường hợp nặng hơn mất từ 5- 7 năm, nhưng cũng có trường hợp mãi mãi không bao giờ được thực hiện thiên chức làm cha, làm mẹ.

Vô sinh nhưng không phải vô phương cứu chữa, nhất là khi bệnh nhân tìm đến cơ sở y tế để được phát hiện và điều trị bệnh sớm. Việt Nam hiện đã đạt được nhiều tiến bộ trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. 

Tỷ lệ điều trị thành công vô sinh và hiếm muộn của các cơ sở y tế trong nước không hề thua kém nhiều nước phát triển. Các phương pháp điều trị vô sinh áp dụng thành công ở Việt Nam: Bơm tinh trùng vào buồng tử cung; kích thích buồng trứng; thụ tinh trong ống nghiệm…

Nguồn: Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khỏe Trung ương (Bộ Y tế)
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận