
Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng thống Nga Vladimir Putin gặp nhau tại Điện Kremlin ngày 25-3 - Ảnh: Điện Kremlin
Bối cảnh thế giới, sự biến động của giá dầu thô lý giải cho việc "an ninh năng lượng" trở thành chủ đề hàng đầu được quan tâm.
Tuy nhiên, chuyến thăm còn mang ý nghĩa lớn hơn, như Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định ngày 24-3 tại Matxcơva, là "định vị lại, nâng tầm hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội mỗi nước trong tình hình mới".
Tầm nhìn dài hạn
Theo giới quan sát, chuyến thăm lần này phát ra hai tín hiệu. Thứ nhất, hai bên tiếp tục coi nhau là đối tác quan trọng và ổn định trong các lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đặc biệt vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng.
Và thứ hai, hợp tác song phương đang được định hướng theo hướng ngày càng thiết thực, tập trung vào những lĩnh vực có thể tạo lợi ích rõ ràng, có thể đo đếm được.
Nội dung hợp tác song phương được Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga ngày 24-3, khi ông nhấn mạnh những hoạt động tại Nga nhằm thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa hai nước, đưa quan hệ kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn với các dự án cụ thể.
Khẳng định Việt Nam đang ưu tiên phát triển năng lượng để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, Thủ tướng cũng đề nghị Nga hợp tác, đầu tư phát triển hệ sinh thái năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình ở Việt Nam với "tầm nhìn 100 năm", đồng thời đẩy mạnh hợp tác thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và khai thác năng lượng sạch tại Việt Nam.
Nhìn tổng thể, 4 ngày của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Matxcơva đã được thiết kế theo cấu trúc quen thuộc cho một chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao Việt Nam với đủ "tầng" gặp gỡ và làm việc.
Trong đó tầng cao nhất là tiếp xúc cấp chính phủ để thống nhất ưu tiên và cách làm thể hiện qua cuộc hội đàm giữa hai Thủ tướng ngày 23-3, cuộc hội kiến giữa Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 25-3.
Tầng thứ hai là những cuộc làm việc với kênh nghị viện (gặp Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga và Chủ tịch Đuma Quốc gia Nga - PV) nhằm củng cố nền tảng pháp lý và thể chế, đồng thời bảo đảm cơ chế giám sát việc thực thi của hai Chính phủ.
Tầng thứ ba là những cuộc gặp gỡ doanh nghiệp hai nước, qua đó kiểm tra "độ thông" của thương mại, đầu tư. Đây cũng là kênh để phát đi thông điệp về cam kết ưu đãi, lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam nhằm kêu gọi, thu hút doanh nghiệp Nga mang lại lợi ích cho cả hai bên. Tầng cuối cùng bao gồm thăm, làm việc với các cơ sở nghiên cứu, trung tâm kỹ thuật để gợi mở, chuẩn bị cho những hợp tác dài hạn.
Nếu nhìn chuyến thăm theo 4 tầng này, kết quả chuyến đi không chỉ nằm ở số lượng các văn kiện được ký kết mà còn là tín hiệu cho mức độ hợp tác giữa hai nước trong dài hạn. Minh chứng rõ nhất cho tín hiệu này là việc ký kết hiệp định xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Đặc thù của hợp tác trong vấn đề này thường đòi hỏi mức độ tin cậy cao và cơ chế phối hợp liên ngành từ tiêu chuẩn, cấp phép đến tài chính và nhân lực nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, hiệu quả trong dài hạn.
Về trung hạn, mức độ thực chất trong quan hệ Việt Nam và Nga sẽ được đo lường bằng việc hiện thực hóa những dự án, hợp đồng cụ thể, chẳng hạn như khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và việc xây dựng các cảng tiếp nhận, kho chứa quy mô lớn.
Về ngắn hạn, theo giới quan sát, tác động của chuyến thăm đến quan hệ Việt - Nga có thể sẽ được thể hiện qua việc thiết lập hoặc kiện toàn những nhóm công tác theo từng lĩnh vực mà hai bên đã thảo luận như thúc đẩy vận chuyển hàng hóa đường sắt giữa hai nước, đào tạo nhân lực, tư vấn và hỗ trợ các dự án đô thị tại Hà Nội, TP.HCM...

Thủ tướng Phạm Minh Chính làm việc với ông Oleg Belozyorov, tổng giám đốc Tổng công ty Đường sắt Nga (RZD) - Ảnh: VGP
Ký kết các hợp tác năng lượng
Sau cuộc làm việc với Thủ tướng Phạm Minh Chính ngày 22-3, lãnh đạo Tập đoàn Novatek - nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn thứ hai của Nga - cho biết doanh nghiệp đã ký thỏa thuận sơ bộ cung cấp khí LNG cho khách hàng Việt Nam và sẵn sàng triển khai các lô hàng đầu tiên trong thời gian tới.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam - cho hay hợp tác dầu khí Việt Nam và Nga không chỉ là hợp tác kinh tế đơn thuần mà mang ý nghĩa chiến lược đa tầng, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị và chuyển dịch năng lượng.
Theo đó, hợp tác có ý nghĩa là trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn. Hợp tác với Nga giúp Việt Nam duy trì và gia tăng sản lượng khai thác dầu khí ở trong nước, tiếp tục phát triển các mỏ dầu khí ở ngoài khơi, tận dụng công nghệ khai thác ở điều kiện địa chất phức tạp. Đây là những yếu tố quan trọng để giảm phụ thuộc nhập khẩu năng lượng.
Với các cam kết và ký kết từ chuyến thăm chính thức, ông Thập cho rằng hợp tác của hai nước có thể mở rộng tiếp tục khai thác khí, phát triển các dự án LNG, phát triển các dự án điện khí vì Nga có lợi thế nguồn cung khí rất lớn, kinh nghiệm phát triển chuỗi LNG. Nếu tận dụng tốt, đây có thể là đối tác chiến lược trong phát triển chuỗi LNG của Việt Nam.
Đặc biệt, trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, hợp tác với Nga giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác năng lượng, không phụ thuộc vào một thị trường hoặc một khu vực, tăng tính tự chủ chiến lược.
Đây là yếu tố rất quan trọng với an ninh năng lượng, an ninh kinh tế của Việt Nam khi các hợp tác mở rộng từ dầu khí truyền thống sang năng lượng hạt nhân, hydrogen, năng lượng mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, giúp chuyển dịch năng lượng hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, để các hợp tác này được hiện thực hóa, ông Thập cho rằng cần có cơ chế linh hoạt, phù hợp với đặc thù thị trường năng lượng, bảo đảm tính khả thi tài chính và khả năng thích ứng với các yếu tố địa chính trị và thị trường quốc tế.
Trên cơ sở các biên bản và hợp đồng đã ký kết, cần thiết lập một cơ chế điều phối cấp chính phủ, đó là Tổ công tác ủy ban liên chính phủ về năng lượng để thúc đẩy nhanh các dự án.
Với các dự án mới như LNG, điện gió ngoài khơi và điện hạt nhân, cần tích hợp đầu tư với mô hình LNG kho cảng, tái hóa khí, điện khí, khách hàng công nghiệp theo cụm, gắn hợp đồng LNG dài hạn với hợp đồng mua bán điện, có cơ chế chia sẻ rủi ro về giá và sản lượng.
Thiết kế cơ chế tài chính, thương mại linh hoạt, đa dạng phương thức thanh toán, bảo hiểm, vận tải, nghiên cứu cơ chế tài chính phù hợp để giảm rủi ro, hợp đồng linh hoạt.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận