Tự chủ nguồn giống vẫn là bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam

Nguồn giống tôm hùm ở Việt Nam vẫn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nhập khẩu, trong khi công nghệ sản xuất giống nhân tạo chưa tạo được tôm con. Với tôm nước lợ, việc tự chủ tôm giống, chọn giống kháng bệnh và nâng cao chất lượng con giống cũng còn nhiều thách thức.

Tự chủ nguồn giống, bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam  - Ảnh 1.

Các đại biểu dự hội thảo nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam - Ảnh: ĐỨC CƯỜNG

Sáng 18-10, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức hội thảo "Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam".

Hội thảo có sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cùng khoảng 150 đại biểu là đại diện cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp ngành tôm.

Nhu cầu hàng trăm triệu con giống mỗi năm

Theo báo cáo tại hội thảo, Việt Nam hiện có khoảng 750.000ha nuôi tôm nước lợ, sản lượng khoảng 1,29 triệu tấn mỗi năm. Kim ngạch xuất khẩu tôm đạt khoảng 4,6 tỉ USD, chiếm gần 48% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Trong khi đó, sản lượng tôm hùm đạt khoảng 14.537 tấn mỗi năm, với nhu cầu con giống lớn. Tuy nhiên, khả năng chủ động nguồn giống trong nước vẫn hạn chế.

Đối với tôm nước lợ, tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phụ thuộc nhập khẩu, còn tôm sú giống phụ thuộc đáng kể vào khai thác tự nhiên. Nhu cầu tôm giống thương phẩm hằng năm lên đến 150-160 tỉ con, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng đàn bố mẹ, kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc.

Tự chủ nguồn giống, bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam  - Ảnh 2.

Tôm giống được thả nuôi ở khu vực nam Khánh Hòa - Ảnh: ĐỨC CƯỜNG

Công tác quản lý sản xuất giống cũng còn bất cập khi một số cơ sở chưa được kiểm tra, cấp giấy chứng nhận nhưng vẫn hoạt động. Điều kiện sản xuất, nuôi dưỡng tại các cơ sở chưa đồng đều, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng con giống và hiệu quả nuôi thương phẩm.

Với tôm hùm biển, mỗi năm cả nước cần khoảng 100-150 triệu con giống. Nguồn cung trong nước mới đáp ứng khoảng 10% nhu cầu giống tôm hùm bông, trong khi giống tôm hùm xanh vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu.

Tự chủ nguồn giống, bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam  - Ảnh 3.

Tôm hùm giống ở Việt Nam hiện nay chủ yếu do ngư dân đánh bắt ngoài tự nhiên và từ nguồn nhập khẩu - Ảnh: ĐỨC CƯỜNG

Đáng chú ý, sau nhiều năm nghiên cứu, Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện được công nghệ sản xuất giống tôm hùm nhân tạo. Khâu chuyển từ ấu trùng Phyllosoma sang con giống Puerulus vẫn là nút thắt lớn.

Quá trình nuôi ấu trùng kéo dài khoảng 150-180 ngày, trải qua 20-22 lần lột xác, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ thức ăn, chất lượng nước, hệ vi sinh và dòng chảy. Tỉ lệ hao hụt cao cùng chi phí vận hành lớn khiến việc hoàn thiện quy trình và đánh giá hiệu quả kinh tế trở thành yêu cầu quan trọng trước khi nhân rộng sản xuất.

Gắn nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp

Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết định hướng đến năm 2035 là đẩy mạnh chọn giống dựa trên hệ gene, tạo các dòng tôm tăng trưởng nhanh, kháng bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tự chủ nguồn giống, bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam  - Ảnh 4.

Nguồn giống là một trong những yếu tố quyết định thành công của ngành tôm - Ảnh: ĐỨC CƯỜNG

Cùng với đó, cần tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; nâng cấp hạ tầng sản xuất giống, hệ thống kiểm định chất lượng và quản lý nguồn gene. Mục tiêu không chỉ dừng ở kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà phải tạo ra quy trình sản xuất ổn định, có khả năng chuyển giao và đáp ứng nhu cầu thực tế.

Đối với tôm hùm, nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục tháo gỡ các nút thắt kỹ thuật để sản xuất được con giống nhân tạo. Với tôm nước lợ, cần nâng cao năng lực tự chủ tôm bố mẹ, phát triển các dòng giống chất lượng cao và tăng khả năng chống chịu dịch bệnh.

Các doanh nghiệp tham dự hội thảo cũng kiến nghị tăng cường phối hợp giữa địa phương và cơ quan chuyên môn trong kiểm tra cơ sở sản xuất giống, kiểm soát nhập khẩu, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc. Theo đó, chất lượng con giống chỉ được bảo đảm khi toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và sử dụng được quản lý chặt chẽ.

Tự chủ nguồn giống, bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam  - Ảnh 5.

Khu vực nuôi tôm ở ven biển Khánh Hòa - Ảnh: ĐỨC CƯỜNG

Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, thử nghiệm đến đánh giá chất lượng và khả năng ứng dụng của giống trong sản xuất. Việc này giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, đồng thời tạo điều kiện để nhà khoa học tiếp nhận phản hồi từ thực tế vùng nuôi.

Bên cạnh đó, các đại biểu đề xuất ưu tiên nguồn lực nghiên cứu dài hạn và đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận công nghệ tiên tiến. Đây được xem là những giải pháp quan trọng để từng bước giảm phụ thuộc nguồn giống nhập khẩu, khai thác tự nhiên, nâng cao hiệu quả nuôi tôm và sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.

Tự chủ nguồn giống, bài toán lớn của ngành tôm Việt Nam  - Ảnh 6.Tiêu hủy 180.000 con tôm hùm giống nhập lậu: Hé lộ cái khó của ngành tôm hùm Việt

Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu gần 35 triệu con tôm hùm giống từ Indonesia, trong đó chủ yếu là tôm hùm bông và tôm hùm xanh (tôm hùm đá). Indonesia đang siết xuất khẩu tôm hùm giống ra sao?

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
google Nguồn ưu tiên trên Google Ưu tiên Tuổi Trẻ trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất