Thứ 4, ngày 21 tháng 8 năm 2019

Thuốc Aspirin - con dao hai lưỡi

16/01/2018 14:45 GMT+7

Để đề phòng các tác hại có thể xảy ra do dùng thuốc, Aspirin chỉ sử dụng khi thật cần thiết, uống vào bữa ăn với liều lượng tối thiểu đủ tác dụng.

Thuốc Aspirin - con dao hai lưỡi - Ảnh 1.

Ảnh minh họa. Nguồn: med.news.am

Aspirin là loại thuốc có tên Acid acetyl salicylic với tên chung quốc tế Acetylsalicylic acid, thuộc nhóm salicylat, một loại thuốc khá phổ biến dùng để điều trị triệu chứng hạ sốt, giảm đau, chống viêm đã được nhiều người sử dụng từ rất lâu và quen thuộc đối với cộng đồng. Ngoài những tác dụng ưu việt, thuốc có thể gây nên những phản ứng có hại nhất là những tác hại về đường tiêu hóa, nó là một con dao hai lưỡi.

Đặc điểm của thuốc Aspirin

Aspirin (Acid acetylsalicylic) có tác dụng làm giảm đau, hạ sốt và chống viêm có sự hấp thu nhanh với mức độ cao. Aspirin được chỉ định để làm giảm các cơn đau nhẹ và vừa, đồng thời làm giảm sốt; thuốc cũng được sử dụng trong chứng viêm cấp tính và mạn tính như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên, viêm thoái hóa xương khớp và viêm đốt sống dạng thấp. Nhờ tác dụng chống kết tập tiểu cầu nên Aspirin được sử dụng trong dự phòng thứ phát nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở những người bệnh có tiền sử về bệnh này. Aspirin cũng được chỉ định trong điều trị hội chứng Kawasaki vì có tác dụng chống viêm, hạ sốt và chống huyết khối.

Các phản ứng có hại về tiêu hóa của thuốc Aspirin

Trong nhóm salicylat thì Aspirin thường gây tác hại nhiều nhất, trong đó đứng hàng đầu là tác hại về tiêu hóa, chủ yếu là tại dạ dày do thuốc ức chế mạnh sự tổng hợp prostaglandin nội sinh mà prostaglandin là yếu tố rất cần thiết cho việc bảo vệ lớp niêm mạc dạ dày chống lại các yếu tố tấn công vì prostaglandin kích thích bài tiết chất nhầy, bài tiết bicarbonat và duy trì lưu lượng máu đến niêm mạc, hơn nữa còn làm giảm acid chlohydric. Aspirin cũng có tác động lên các yếu tố đông máu, ức chế hoạt tính của tiểu cầu, làm giảm sự vững bền của mao mạch, kéo dài thời gian chảy máu, làm tăng sự tiêu hủy fibrin giúp đông máu. Thuốc tác động trực tiếp lên niêm mạc dạ dày đã được chứng minh bởi tần số tác hại dạ dày thấp hơn nhiều nếu dùng Aspirin dạng bọc hoặc tiêm đường tĩnh mạch. Các phản ứng nhẹ của thuốc chỉ chiếm từ 6 đến 33% như ợ nóng, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát trong dạ dày ... Hai phản ứng quan trọng đáng lưu ý là chảy máu dạ dày, viêm loét dạ dày và thường không có sự tương quan giữa các triệu chứng cơ năng với các thương tổn do thuốc.

Chảy máu tiêu hóa trên thực nghiệm theo dõi thấy chảy máu rỉ rả tăng theo số lần và số lượng Aspirin uống. Trên lâm sàng khó ghi nhận được một tỷ lệ chính xác về phản ứng có hại này vì không thể thống kê được hết những người tự dùng Aspirin và cả những người bị chảy máu rỉ rả không thể hiện trên đại thể cho nên tỷ lệ được ghi nhận rất khác biệt. Tác hại chảy máu tiêu hóa thường xảy ra ở những người bệnh bị loét dạ dày tá tràng hoặc xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản nhưng cũng có thể xảy ra ở những người không có bệnh lý dạ dày do Aspirin đã gây ra một viêm xước dạ dày chảy máu cấp tính. Tác hại này thường tự hết sau khi ngừng thuốc nhưng cũng có đến 5% tử vong do chảy máu và tỷ lệ này có thể lên đến 15% ở những người cao tuổi.

Loét dạ dày thường xảy ra khi dùng Aspirin nhất thời với liều lượng 1gam/24 giờ, thuốc có thể gây ra các triệu chứng bệnh lý ở niêm mạc dạ dày trong 50% các trường hợp. Triệu chứng này rất ít khi xảy ra ở hành tá tràng. Nếu dùng thuốc kéo dài thì có thể gây loét dạ dày chứ không bao giờ gây loét hành tá tràng, bệnh loét này có thể có nhiều ổ và dễ chảy máu, có khi có biến chứng thủng, thường là ở hang vị. Trên thực tế khó biết được tần số chính xác của loét dạ dày do Aspirin vì biểu hiện lâm sàng có thể kín đáo đến khi có tai biến thủng hoặc chảy máu mới biết vì không thể soi dạ dày thường quy cho những người bệnh có dùng thuốc.

Biện pháp can thiệp và phòng ngừa các tác hại

Để đối phó với hai tác hại chảy máu dạ dày và loét dạ dày, cần có biện pháp can thiệp thích hợp như ngừng ngay việc sử dụng thuốc Aspirin, dùng thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày như sucralfat, prostaglandin (biệt dược là Euprostol, Mesoprostol); cũng nên dùng thuốc ức chế tiết acid chlohydric, kháng histamin H2 như Cimetidin hoặc thuốc ức chế H+K+ATPase (bơm proton) như Omeprazol. Ngoài ra cần can thiệp biện pháp hồi sức trong các trường hợp chảy máu tiêu hóa nặng.

Để đề phòng các tác hại có thể xảy ra do dùng thuốc, Aspirin chỉ sử dụng khi thật cần thiết, uống vào bữa ăn với liều lượng tối thiểu đủ tác dụng. Ở những người bệnh có sẵn bệnh lý dạ dày mà bắt buộc phải dùng Aspirin do yêu cầu điều trị của một bệnh nào đó có khả năng đe dọa đến tính mạng hay tiên lượng của bệnh thì cần phải phối hợp với thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày hoặc ức chế tiết acid chlohydric như đã nêu ở trên.

Nguồn: Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn (Bộ Y tế)
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận