Phóng to |
| Già Mằn - người cao niên nhất trong cộng đồng Ơ Đu |
“Người em út” đất Việt
Thật quá đen đủi khi tôi ghé bản Com - bản trung tâm của xã Kim Đa, để tìm người dẫn đường vào bản người Ơ Đu, hôm nay là thứ bảy, cán bộ xã đều nghỉ để lên rừng tăng gia sản xuất.
Tôi liều mình ngược lên bản Pủng với hi vọng sẽ tìm được đường đi bản Kim Hòa. Nhưng cuối cùng hướng đi này bị tắc tị bởi sau 13 giờ không còn thuyền ngược lên bản Pủng.
Đêm phải nằm lại Kim Đa để sáng hôm sau ngồi nhờ bè mét của dân sơn tràng, nhâm nhi hết hai bánh lương khô loại 702 để ngược lên bản Kim Hòa. Đến tối mịt những túp lều be bé của người Ơ Đu mới hiện lên trong nhập nhòa ánh điện cù (bóng đèn được thắp sáng nhờ tuôcbin nhỏ đặt dưới suối) ở lưng chừng ngọn núi cao.
|
Theo kết quả khảo sát do Hội đồng dân tộc Quốc hội tiến hành, cộng đồng dân tộc Ơ Đu chỉ còn hơn 300 người. Họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme nhưng hiện nay ngôn ngữ của họ đã mai một, hầu như không còn ai sử dụng. Họ chỉ còn ý thức tự giác một cách mơ hồ về nguồn gốc tộc người do ngôn ngữ đã biến mất (cả bộ tộc chỉ một vài người biết tiếng mẹ đẻ) và chịu ảnh hưởng về ngôn ngữ cũng như sinh hoạt của người Thái và người Khơ Mú, thậm chí nhiều người Ơ Đu tự khai mình là người Thái hoặc Khơ Mú… Người Ơ Đu sống trong cộng đồng nhỏ với tục ở rể và họ có cách tính năm, lịch riêng. Tiếng sấm đầu tiên trong năm (dương lịch) được tính là ngày đầu năm của một năm mới (!?) và họ tin rằng con người có linh hồn, khi người chết thì linh hồn vẫn sống trong nhà và chi phối các hoạt động của người sống... (Theo Việt Nam - cộng đồng 54 dân tộc) |
Nhà trưởng bản Phong đã ngay trước mặt nhưng tôi vẫn chưa được dừng chân, chưa được cơm nước, trưởng bản Phong lại dẫn tôi tiếp tục trèo lên cái dốc thẳng đứng có những bậc đất vừa đủ dúi nửa bàn chân vào để bước lên nhà già Mằn - bậc cao niên nhất của cộng đồng nhỏ bé này.
Gặp tôi, già Mằn rất vui vì “lâu lắm rồi mới thấy người dưới xuôi vượt núi lên thăm người Ơ Đu, người Ơ Đu còn ít lắm mày ạ…”. Già Mằn nhanh chóng gọi người nhà mang mấy ống nứa ra đãi khách đường xa, ông bảo: “Pá bọc đấy!”. Đó là những ống nứa có hoa văn khá đẹp nhưng bên trong là rau, cà, hoa chuối, lá môn được trộn chung với cá, lòng cá đã ươn và thịt heo, thịt chuột cũng đã lên mùi...
Già Mằn lấy que chọc trong ống nứa cho mọi thứ nhỏ vụn ra rồi hơ bên bếp lửa. Khi ống nứa sôi lên, ứa nước ra, ông mới mời tôi ăn. Từ sáng tới giờ chỉ có lương khô với nước suối trong bụng, vậy mà khi thấy món đặc sản này với cái mùi tổng hợp của nó, tôi đã bắt đầu thấy… no rồi!
Già Mằn cười hềnh hệch khi thấy tôi chưa chạm vào món pá bọc, ông bảo: “Đây là món ăn người Ơ Đu thích nhất, thường chỉ dành đãi cán bộ từ huyện lên công tác, mà lâu lắm rồi chưa có cán bộ vào cùng ăn!”. Cùng với ăn là uống. Già Mằn lại lôi ra hũ rượu mà ông gọi là “lậu sả thô” - loại rượu chỉ dùng trong lễ cưới hỏi.
Với một cộng đồng chỉ có hơn 300 người, chưa bằng sĩ số học sinh một trường tiểu học ở huyện thì chuyện cưới xin của tộc người này quả là hiếm hoi. Nhắc đến chuyện cưới xin, già Mằn thở dài: “Lâu lắm rồi cả làng này có được uống lậu sả thô đâu, có đám cưới nào đâu mà uống rượu.
Không biết từ bao giờ con gái Ơ Đu không kết hôn với con trai cùng tộc bởi họ quan niệm con trai Ơ Đu cùng họ Lo nên không thể lấy nhau được. Vì thế đã bao đời nay con gái Ơ Đu chỉ lấy con trai Thái hoặc Khơ Mú cho nên giống nòi Ơ Đu cứ ít dần đi”.
Đêm cúng “ma” người
Nửa đêm, không tài nào chợp được mắt bởi cái lạnh ghê người của vùng rừng núi, tôi bật dậy đi lang thang trong bản Ơ Đu. Khi đi qua căn nhà rách nát ở cuối bản, bất chợt tôi nghe thấy tiếng ai đó rì rầm trong ánh đèn dầu leo lét, tôi liều bước vào bên trong: người đàn ông đang xếp bằng trước một bàn cúng gồm một bộ áo, váy Thái mới nguyên, bên cạnh có một chiếc đĩa con đựng một nhúm lông chó.
Ơ Đu theo tiếng Thái nghĩa là “thương lắm” (hay có tên gọi khác là Tày Hạt, có nghĩa là “Người đói rách”). Không thương sao khi dân tộc này chỉ có vỏn vẹn 69 hộ, 317 nhân khẩu, xếp thứ 54/54 trong cộng đồng các dân tộc VN. Theo thống kê dân số vào tháng 4-1999, người Ơ Đu có 300 người, trong sáu năm cả dân tộc này chỉ tăng được 17 người. Xưa kia người Ơ Đu cư trú suốt hai bên bờ sông Nậm Mộ, Nậm Nơn, do nhiều biến cố lịch sử diễn ra, họ phải dời đi nơi khác hoặc ở lẫn vào cư dân mới. Hiện nay họ sống rải rác trong nhiều bản vùng sâu vùng xa như Xốp Cộp, Kim Hòa, Kim Đa... thuộc huyện Tương Dương, Nghệ An. Cũng giống như người Đan Lai, người Ơ Đu có tục đẻ ngồi tại góc nhà. Tuổi của đứa bé được tính từ ngày có tiếng sấm đầu tiên trong năm. Khi đó đứa bé mới được bố mẹ làm lễ đặt tên... |
“Im lặng nào, để thầy mo mời con ma về nhà tao” - chủ nhà là Lo Văn Hậu mà tôi gặp ban chiều tỏ vẻ không bằng lòng khi tôi bước vào. Đứa con của Hậu bệnh nặng mấy hôm nay, hôm trước anh phải lặn lội về tận bản Com xem bói và được biết con “ma pí luông” đã vào nhà và đòi ăn con chó - phải cúng con chó, con anh mới hết bệnh được.
Do nhà nghèo, không thể cúng hẳn một con chó nên Lo Văn Hậu chỉ dám cúng một... nhúm lông chó!... Thầy cúng ú ớ... ú ớ mấy cái rồi phán: “Con ma sẽ đi, nhưng nếu đứa nhỏ khỏi bệnh thật thì tuần sau, giờ này, mày phải cúng cho tao một con chó thật nhé, nếu không, con ma sẽ bắt đứa nhỏ đi mất...”. Vợ chồng Lo Văn Hậu líu ríu gật đầu...
Trong mắt tôi, cuộc sống của người Ơ Đu còn cô tịch và âm u làm sao!
Nhưng buồn hơn là người Ơ Đu không còn chữ viết, thậm chí không nhớ mình là người Ơ Đu. Theo già Mằn, hiện cả bản chỉ có ba cụ lão làng còn nhớ tiếng, nhớ chuyện của dân tộc mình.
Một số thanh niên biết “tròm trèm” đôi tiếng, ngoài ra đa số nói không thạo tiếng Ơ Đu. Già Mằn bảo giờ già phải nói nhiều và bắt buộc nhiều người cùng nói tiếng của dân tộc mình cho quen cái miệng mới mong bảo tồn được tiếng nói.
Tôi hiểu nỗi lòng của người Ơ Đu, một dân tộc quá ít người, lại còn bị chia lẻ ra với nhiều bản làng cách biệt, rải rác và liên tục di chuyển, ở lẫn vào các tộc người khác. Già Mằn cho biết thêm: sắp tới trong kế hoạch dời dân bản vùng lòng hồ thủy điện bản Vẽ, tất cả các bản người Thái, Khơ Mú di dời về vùng rừng huyện Thanh Chương.
Riêng 69 hộ gia đình người Ơ Đu được chuyển vào bản Văng Môn, xã Nga My cách xã Kim Đa không xa để bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người Ơ Đu. Đó là một việc làm mà già Mằn mong đợi, quần tụ lại để bảo tồn cái hồn dân tộc, cho dù người ta gọi Ơ Đu là gì đi nữa, là “người đói rách” hay người tha phương, nhưng cũng cần có cái gốc chứ!
--------
* Kỳ sau: Người Mã Liềng dưới chân núi Ka Day
-------------------
Tin, bài liên quan:


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận