Phóng to |
Có lần người ta dụ dỗ bà Hà Thị Cầu đem được cây líu ấy ra Hà Nội. Nhưng rồi cả cái năm phải kéo cây nhị mới bịt nắp bằng vỏ lon bia, bà cứ vật vã không ra bệnh gì. Sở Văn hóa - thông tin Ninh Bình phải điện lên Hà Nội đòi cái “niệm thần chú” ấy về, bà mới thôi ốm.
Để ra mắt, mấy anh Tây mang biếu bà một chai Lúa Mới. Bà cảm động cứ úi giời: “Sao biết tôi có tính máu mê ấy thế!”. Tuy nhiên thời gian này bà không được khỏe, phải kiêng rượu. Bà cũng mới chuyển sang ăn chay. Bà nói: “Thầy bảo nếu qua được năm nay, tôi sẽ sống đến 90 tuổi!”.
Lũ trẻ kéo đến đứng đầy ngoài cửa sổ. Bà ngồi trên giường nói ra: “Về! Lúc nào chúng mày muốn nghe thì tao ra ngã ba hát cho mà nghe…”. Sau khi hai ngôn ngữ Tây - ta đánh vật với nhau một hồi, nhị và trống được đem ra. “Tôi ốm lay lắt mấy tháng nay nên hát nó cứ ai ai tiếng,” nói thế chứ bà vẫn hát một lèo 7-8 bài, thậm chí không chịu hát bài dễ. Đầu tiên là Tứ hải giao tình, rồi Bác mẹ sinh thành đệm toàn bằng bộ gõ, Cá vàng, Ngược đời, Sáng cả đêm rằm, Trương Chi… Hát say sưa cứ như chỉ chờ có người đến nghe. Chẳng biết lúc không “ai ai” thì thế nào, nhưng những gì bà hát vẫn làm người ta vui buồn theo. Tiếng nhị khi réo rắt khi nhấm nhẳn, hết bài lại nghịch ngợm nhại tiếng người. Xiết lên í ò, nghĩa là hết rồi!
Bà Cầu tất nhiên không biết chữ. Chỉ có rất nhiều câu cửa miệng. Chẳng hạn hỏi chuyện “catsê” khi xưa, bà buột miệng: Bảo Đại (ý nói đồng tiền Bảo Đại…) làm hại ăn mày, chuyện bà đang phải uống thuốc thì Thuốc nam đánh giặc thuốc bắc lấy tiền. Có một câu mà bà nhắc lại nhiều lần là “Vất vả tại số dở dương tại giờ-ời!”. Cứ như cái lối bà nhấn vào chữ giời, đai ra một cách không cố ý thì đúng tại giời thật! Cũng có thể kỹ thuật luyến và nhấn đặc trưng của xẩm đã in dấu trong từng câu bà nói. Bà Cầu có một thứ bệnh lạ đời: nói nhịu. Chẳng hạn nếu bà nói “lên giời ngồi” hay “ăn giời đi con”. Thì giời 1 nghĩa là “giường”, giời 2 là “cơm”. “Ninh Bình” hay “giọt nước cánh bèo” không cẩn thận thì “bình” và “bèo” đều thành “bò” như chơi. Nhưng khi bà hát hầu như tật này biến mất!
Bây giờ hỏi bà biết bao nhiêu bài xẩm, bà sẽ đáp: “Hát đến đâu ra đến đấy không đếm!”. Thật ra các điệu xẩm không khỏi rơi vãi theo tuổi tác… Cách đây dăm năm, bà còn không dưới 10 làn điệu - đấy cũng là tất cả những gì được biết về xẩm. Những người làm phim Xẩm (đạo diễn Bùi Thạc Chuyên) đã đi nhiều nơi để rồi kết luận rằng bà là nghệ nhân hát xẩm duy nhất còn lại - ngay từ thời điểm bấm máy: 1994.
Hỏi bà phải có tố chất gì mới hát được xẩm. Trả lời: “Phải có calo trong cái họng!”. Xẩm cần nhất là sức lực để có thể hát cả ngày, hát bất cứ nơi đâu, lúc ốm hạ giọng vẫn hát như thường... Một vài nghệ sĩ trẻ cũng chịu khó về tận nhà bà học xẩm. Bà khen cô Hồng Ngát sáng ý: “Về nghe chốc lát vài tiếng đồng hồ hát được bài Thập ân”.
Nhưng thường mỗi cô cũng chỉ học một đôi bài lấy vốn chứ chẳng ai nghĩ đến chuyện kế thừa cả cái nghệ thuật xẩm. Cứ cho học nửa năm thì hết, nhưng phải mất bao lâu mới hát được như bà?! Xẩm có cái chất dân dã, phóng khoáng mà không phải nghệ sĩ được đào tạo chính qui nào cũng tìm lại được. Chưa kể hát lại phải kèm với nhị, bầu, trống phách… mới ra chất. Bà Cầu có biệt tài cùng lúc miệng hát, chân phách, tay sênh, tay kia gõ một lúc hai trống mảnh. Trong băng và đĩa Xẩm chợ của bà không có tiếng phách vì người chơi bộ gõ chỉ có thể dùng tay.
Bà Cầu có ba người con nhưng không ai theo được nghề. Chưa kể họ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ xẩm hay hát rong đều không được coi là một nghề. Nhiều nghệ nhân xẩm thượng thặng của Hà Nội cuối đời sống bằng việc vót tăm và bện chổi đót. Khi vẻ đẹp của xẩm phần nào được công nhận thì dân ta lại không còn thói quen và cũng ít có cơ hội để đến với nó. Trước đây dân quanh vùng còn có dịp đón bà Cầu đến các đám ma đám giỗ, nay dù có chèo kéo bà cũng khó lòng nhận lời vì lý do sức khỏe.
Cầu là tên con trai cả, bà tên thật là Hà Thị Năm, bé thì bố mẹ bỏ thúng gánh đi, lên 10 đã hát xẩm lấy tiền. Ông cụ thân sinh ra bà đánh đàn bầu cũng bị lòa, mất năm bà 11 tuổi. Hai mẹ con từ quê Ý Yên, Nam Định ra Ninh Bình hát xẩm. Nghe nói có con bé 12 tuổi hát hay đáo để, ông Mậu - trùm xẩm Yên Mô, để ý “tạo điều kiện”. Thường có cảnh bà mếu máo chạy đến: “Bác ơi trẻ con đánh cháu!”. Rồi ông rủ bà nhập bọn với vợ chồng ông. Hỏi ông có dạy bà hát không. Đáp liền: “Có, mà ông ấy học tôi thì có! Nhưng mà ông ấy kéo nhị những Lý giao duyên, Lý hành vân thì tuyệt vời”. Ông Mậu chơi được đủ cả bầu, sáo, nhị… Phải cái mặt rỗ, mắt lòa - di chứng đậu mùa. “Tôi cũng chả xinh gái. Mắt có ve!” Không nhìn thấy gì lại càng ghen. Chỉ cần bà bị khách trêu ném xu đồng vào ngực là ông đánh… “Đánh yêu hả bà?”, “Vâng, đánh yêu lắm!”.
Bà cho rằng ông đưa bà lên Mường (Quảng Cư, Đồng Bái...) bỏ bùa bà. “Chứ không làm gì có chuyện gái 16 tuổi lấy ông 49!”. “Bác cháu” ăn cùng mâm, nhiều khả năng “bùa” được bỏ vào nước canh như câu: Bùa yêu thuốc dấu không bằng mắm ngấu tra canh.
Các cụ đã đúc kết: Tham giàu lấy chú biện tuầnTuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chanThà rằng lấy chú xẩm xoanCông nợ không có hát tràn cung mây.
Xẩm đắt vợ là vì thế! Bà Cầu cho biết bà là vợ thứ 18 của ông Mậu. Con gái bà gật đầu xác nhận. Ba vợ chồng, lúc ấy ông vẫn còn bà thứ 12 - người Thanh Hóa, cứ “lưu diễn” như thế: “Một năm nhờ bàn dân thiên hạ 10 tháng!”. Gia tài có trống phách và nồi niêu. Bữa nào ăn hàng thì chủ quán còn miễn tiền trọ, tự nấu lấy thì ngủ mất 5 xu/người. Năm Ất Dậu, ông đem bầu đoàn vào vùng Cẩm Thủy, Kim Tân, La Hoài (Thanh Hóa). Rừng thiêng nước độc, phải uống rượu vào để chống lạnh nhưng nhờ thế mà thoát chết đói. Ông mất khi bà mới 33 tuổi. “Thương ba đứa trẻ tôi cũng muốn đi bước nữa… Hồi ấy lấy ông cai thầu xây dựng giờ có phải được nhờ không!”.
Vợ chồng bà có mảnh đất từ trước 1945; năm 1954 về định cư, gia tài vẫn chỉ lếch thếch hai cái niêu một rang một nấu. Ngoài hát xẩm, kéo nhị bà chẳng biết làm gì. Không được đi hát đồng nghĩa với đói. Mấy ai biết vì thế bà đã mất một người con sơ sinh, một người nữa phải đem cho đi. Gần đây mẹ con mới đoàn tụ… Mãi đến cuối những năm 1980 nhà bà mới được cấp ruộng, 1992 mới xây cái nhà, không có công trình phụ. Đến nay vẫn đang nợ ngân hàng 1 triệu đồng. Bà chẳng thể dưỡng già được với danh hiệu nghệ nhân hay nghệ sĩ ưu tú. Chị Mận đi chợ bán gà nuôi mẹ. Gà cúm thì chuyển sang mèo…
Thời gian như ngừng trôi trong căn nhà của xẩm. Tường trang trí toàn những tờ lịch của năm cũ. Một dãy bằng khen giăng ngang đã bay màu, rặt những giải nhất hạng... Nghe bà hát, có những vị giám khảo thậm chí không dám hạ bút ghi điểm 10 - họ tự thấy “không đủ tư cách” để làm việc ấy (xem phim Xẩm). Bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói VN vẫn ghi bà là “thí sinh”, còn Liên hoan trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc thì tặng giải đặc biệt cho cụ Hà Thị Cầu - “nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình”. Bà lại vừa được công nhận nghệ nhân dân gian ngày 5-11, Hội Văn nghệ dân gian VN vừa tổ chức trao bằng ngày 25-12 vừa qua tại Hà Nội.Năm 1996 bà sang Trung Quốc hát xẩm. Thấy kem Bắc Kinh ngon, bà nhón một que “đem về cho con Mận”, cả đoàn can không được. Về đến khách sạn, bà cứ giở khăn mùi soa ra tìm mãi, quái lạ đã gói vào đây rồi… Đến tận bây giờ con cháu vẫn đem chuyện này ra cười với nhau. Bà chỉ chống chế: “Không, kem bên ấy ngon thật!”.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận