Phóng to |
|
Nghệ sĩ thị giác Như Huy - Ảnh do tác giả cung cấp |
Góp một góc nhìn về phê bình mỹ thuật, nghệ sĩ thị giác NHƯ HUY cho biết:
- Tình trạng thiếu vắng phê bình không chỉ của riêng nghệ thuật thị giác, mà còn tồn tại ở nhiều nghệ thuật khác như văn chương, múa hay âm nhạc đương đại chẳng hạn. Cũng dễ hiểu thôi, sự tiếp cận của các nghệ sĩ trẻ với những loại hình nghệ thuật phi truyền thống này hầu hết là do nhu cầu tự học hỏi, tự tìm hiểu, trong khi đó các định chế giáo dục và truyền thông nghệ thuật tại VN lại chưa theo kịp sự biến chuyển nhanh chóng của hiện thực.
Chính vì lẽ đó đã xuất hiện một khoảng trống lớn giữa thực hành (là những gì nghệ sĩ đang làm) và nhu cầu lý thuyết (không chỉ những gì bàn về các thực hành đó mà còn là sự lý thuyết hóa những vấn đề được đặt ra bởi thực hành). Đứng trước tình trạng này, lẽ dĩ nhiên các nghệ sĩ phải tự cứu mình thôi.
* Về sách phê bình mỹ thuật hiện nay, theo anh, nên đọc những cuốn nào?
Phóng to |
| Bìa cuốn Is art history global? |
- Hiện tôi thấy có một loạt sách có tên là The art seminar (Hội nghị chuyên đề về nghệ thuật) gồm bảy cuốn, là một dạng kỷ yếu của bảy cuộc hội nghị do Nhà xuất bản Routledge xuất bản vào năm 2007-2008, mà theo tôi là rất quan trọng, có tham vọng đặt ra tất cả vấn đề hiện tồn trong nghệ thuật - đặc biệt là lịch sử nghệ thuật và phê bình nghệ thuật - của nghệ thuật thế giới.
|
“Bản thân tôi cũng có những cố gắng và giải pháp theo kiểu của mình. Ví dụ, mới đây tôi có tư vấn và rồi nhận dịch cho NXB Tri Thức một cuốn sách nhan đề: Thế mà là nghệ thuật ư (But is it art?), của tác giả Cynthie Freeland - là một trong những cuốn sách mang tính dẫn luận về nghệ thuật đương đại rất nổi tiếng. Cuốn sách rất khả dụng này giúp công chúng bình thường có thể biết cách tiếp cận được với các thực hành nghệ thuật đương đại, hi vọng sẽ được xuất bản vào đầu năm 2009”. |
Chính bởi lý do đó, câu hỏi được đặt ra là lịch sử ấy liệu có còn khách quan không khi rõ ràng nghệ thuật ở các khu vực khác nhau, sẽ có những con đường hình thành và phát triển khác nhau. Ví dụ, lịch sử nghệ thuật phương Tây, hội họa ra đời trước rồi sau đó đến nhiếp ảnh. Trong khi đó ở VN nhiếp ảnh mới là thứ được du nhập vào trước (Đặng Huy Trứ mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường vào năm 1869) và mãi sau này vào năm 1925, Victor Tardieu mới thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội...
* Có thể thấy sách phê bình mỹ thuật ngoại văn ít được lưu tâm dịch tại VN. Trong khi các nghệ sĩ không phải ai cũng đọc được nguyên tác. Anh suy nghĩ gì về vấn đề này?
- Đây là vấn đề nan giải. Tuy nhiên, thậm chí còn nan giải hơn khi ngay cả nghệ sĩ có khả năng đọc được nguyên tác, thì ở VN họ cũng khó tiếp cận được các nguyên tác ấy. Theo tôi biết, hầu như không có sách chuyên ngành về lý luận phê bình nghệ thuật được nhập khẩu vào VN. Hầu hết sách về nghệ thuật mà Xunhasaba hay các đơn vị khác nhập về để bán đều chỉ là các sách kiến trúc hay trang trí nội thất, và sách tranh ảnh mà thôi.
* Có một số nghệ sĩ bộc lộ quan điểm là hoàn toàn có thể sáng tác, nổi tiếng mà không cần học, cần đọc. Ý kiến của anh?
- Theo tôi, đọc không phải chỉ là việc học, mà còn là một hành vi duy trì cảm hứng nhân văn - cảm hứng với các vấn đề của con người. Thật khó tưởng tượng một nghệ sĩ nào đó muốn làm những tác phẩm nói tới đủ mọi vấn đề to tát về con người mà chính bản thân lại hoàn toàn không có mối quan tâm gì tới việc đọc. Thật sự là cái mô hình về một họa sĩ ít học, chỉ dựa vào tài năng thiên bẩm và may mắn là một mô hình đã quá xưa cũ. Một nghệ sĩ hiện nay, theo tôi, phải là một kẻ bằng các thực hành nghệ thuật của mình, có thể dấn thân chủ động vào tuyến đầu của các băn khoăn về nhân văn, văn hóa, chính trị học. Và muốn như vậy, đọc, với họ phải là một nhu cầu thiết yếu nếu không muốn nói là thiết yếu nhất.


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận