Mùi phở thơm trong ký ức học trò

Khi ấy chúng tôi đâu biết thầy đã phải dè sẻn thế nào để có những bữa phở cuối tuần. Giờ đây, đó là ký ức ấm áp không thể nào phai.

MÙI PHỞ THƠM TRONG KÍ ỨC HỌC TRÒ - Ảnh 1.

Ảnh tác giả chụp cùng thầy giáo bồi dưỡng học sinh giỏi

Trong hình dung của nhiều người, thầy của một cô giáo hẳn đã già, râu tóc bạc phơ... Riêng thầy tôi lại khác. Dường như thời gian và những vất vả cuộc đời không tác động nhiều đến gương mặt thầy, dù thầy đã gần 70 tuổi.

Sau mấy năm không gặp, thầy có vẻ gầy hơn, dáng vẫn cao dong dỏng, mái tóc điểm bạc. Nụ cười vồn vã, cái bắt tay thân mật vẫn như xưa. Thầy trò hàn huyên, thoắt cái đã ba giờ đồng hồ. 

Chào thầy ra về, bao ký ức thời thanh xuân chợt ùa về.

Những bài học không chỉ nằm trên trang sách

Tôi vẫn nhớ những ngày tháng nhọc nhằn của năm 1982, 1983 dưới thời bao cấp. Cuộc sống ai cũng vất vả, cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm. Với thầy, đây cũng là giai đoạn cam go khi nhiều đồng nghiệp phải bỏ nghề vì đồng lương ít ỏi. Nhưng nhiệt huyết, lòng yêu nghề và sự tận tụy với học trò đã níu chân thầy. Thầy dành cho chúng tôi sự lo lắng của người cha, quan tâm của người anh và trách nhiệm của người thầy.

Hồi đó, đội tuyển học sinh giỏi của chúng tôi có bảy đứa, thầy đối xử công bằng với tất cả. Đó là Đình Tuấn - lù khù nhưng học giỏi nhất đội; Hoàng Oanh - tóc xoăn, đỏm dáng nhưng viết chữ cực đẹp; Kiều Anh - răng khểnh, hay cười; Văn Phong - cây hài đại tài; Xuân Quang - chàng lãng tử; Sơn - thi sĩ mơ mộng và tôi.

Mỗi đứa chúng tôi ở một nơi, cùng tập trung về Phòng Giáo dục huyện học bồi dưỡng, thầy làm giáo viên chủ nhiệm. Từ chỗ xa lạ, nỗi nhớ nhà, nhớ bạn khiến chúng tôi xích lại gần nhau. Mỗi sáng, chúng tôi cuốc bộ hết con đường chính của thị trấn đến học phổ thông tại Trường cấp 2 Vĩnh Điện (Điện Bàn, Quảng Nam cũ, nay thuộc Đà Nẵng). Chiều và tối, cả nhóm ở lại khu tập thể Phòng Giáo dục để tham gia lớp luyện "gà đá".

Tôi vẫn nhớ những giờ lên lớp của thầy. Chúng tôi đứa nào cũng tròn xoe mắt, chăm chú nghe từng lời giảng. Chính thầy đã truyền cho chúng tôi niềm say mê văn học, tình yêu với lời hay ý đẹp bằng lối giảng sinh động, độc đáo và vốn kiến thức uyên thâm.

Nhưng cả bảy đứa đều ngán giờ trả bài làm văn của thầy. Không phải vì thầy giảng không hay, mà vì chúng tôi sợ sự nghiêm khắc của thầy trước những bài viết vụng về, ngô nghê. 

Thầy tỉ mỉ sửa từng lỗi, chỉ ra chỗ nào vụng, đoạn nào thừa. Có lúc, những đoạn văn lủng củng bị đọc trước lớp khiến cả nhóm bật cười, còn tôi đỏ mặt vì ngượng. Sự chu đáo, trách nhiệm của thầy giúp chúng tôi trưởng thành hơn sau mỗi lần vấp váp.

Có lần, thầy ra đề làm văn tưởng tượng Sơn Tinh sau giấc ngủ hàng nghìn năm tỉnh dậy, chứng kiến cảnh quan mới tại công trình thủy điện sông Đà. Đọc đề, đứa nào cũng tỏ ra hiểu biết, chăm chú viết, có bài dài đến hai, ba trang giấy. Vậy mà đến giờ trả bài, mỗi đứa lãnh một "cây gậy Trường Sơn" to tướng. Cả đám mặt tái mét, lắng nghe thầy quở trách.

Bài tập ấy theo chúng tôi mãi như lời nhắc nhở không được suy nghĩ nông cạn, chủ quan khi viết, bởi "bút sa gà chết".

Không chỉ truyền đạt kiến thức, thầy còn rèn chữ viết cho chúng tôi. Mỗi ngày, thầy yêu cầu chúng tôi chép một bài thơ vào vở, đúng ô li, mẫu chữ. Tôi vẫn nhớ lời thầy: "Văn hay - chữ tốt", "nét chữ - nết người". Thầy lặng lẽ sửa từng dáng ngồi, nét chữ, bồi đắp kiến thức cho chúng tôi từng ngày.

Tô phở thơm và tấm lòng của thầy

Thầy không chỉ dạy chúng tôi kiến thức trong sách vở và những bài học ngoài đời mà còn là "thần tượng" trong mắt những đứa trẻ mười bốn, mười lăm tuổi bởi những pha đánh bóng chuyền đẹp mắt mỗi chiều trước sân Phòng Giáo dục.

Sau những giờ trả bài làm văn đầy hồi hộp, lo âu, khi nắng chiều dịu lại, chúng tôi tụ tập xem các thầy giáo trong huyện giao hữu bóng chuyền. Khác với vẻ đạo mạo trên bục giảng, các thầy trở nên phóng khoáng, khỏe khoắn trong trang phục thể thao, cùng những tràng cười và cái bắt tay thân thiện.

Vậy mà cứ 19h30, thầy lại có mặt ở lớp, kèm đội tuyển ôn kiến thức, luyện cách diễn đạt sao cho rành mạch, trôi chảy. Học xong, thầy trò cuốc bộ quanh Vĩnh Điện, "thị trấn trong lòng bàn tay", để thư giãn.

Những tối cuối tuần, thầy thường dẫn cả đội đi ăn bồi dưỡng. Tô phở bốc khói là "cao lương mỹ vị" lần đầu chúng tôi được thưởng thức. Thuở đó, chúng tôi còn trẻ con, chỉ biết vui vẻ ăn uống mà không để ý đồng lương giáo viên eo hẹp, thầy còn phải dè sẻn chi tiêu cho bản thân và lo cho gia đình nhỏ. Mỗi lần dẫn cả đội đi ăn, chắc thầy phải tiết kiệm cả tháng. Vậy mà chúng tôi cứ vô tư đón nhận tấm lòng của thầy.

Giờ đây, chúng tôi đã trưởng thành, mỗi người một công việc. Có người đã làm sui, sắp sửa về hưu, nhưng những kỷ niệm về lớp bồi dưỡng ngày nào và về thầy vẫn không phai nhạt. Đình Tuấn, Hoàng Oanh - những học trò cưng nhất của thầy - hiện sống và làm việc tại TP.HCM. Sơn, chàng thi sĩ năm nào, đã trở thành bác sĩ; còn bọn con gái chúng tôi tiếp nối nghề giáo của thầy.

Bụi thời gian có thể phủ mờ lên tất cả, song tâm hồn mỗi người chúng tôi luôn có những góc nhớ về người thầy dạy bồi dưỡng lặng thầm năm xưa. Và với tôi, mùi vị thơm thơm của bát phở "ngon nhất trần đời" ngày ấy vẫn theo mãi đến tận bây giờ.

MÙI PHỞ THƠM TRONG KÍ ỨC HỌC TRÒ - Ảnh 2.

Mùi phở thơm trong ký ức học trò - Ảnh 4.Ngôi trường đi qua cơn bão

Hai mươi năm trôi qua, tôi vẫn nhớ mãi ngôi trường đổ nát sau bão Durian, nhớ những buổi học tạm và thầy cô, bạn bè đã cùng nhau vượt qua ngày tháng gian khó.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
google Nguồn ưu tiên trên Google Ưu tiên Tuổi Trẻ trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất