
Không ảnh nhà máy điện hạt nhân Bataan (Philippines) đã được xây dựng vào những năm 1970 nhưng chưa bao giờ được vận hành - Ảnh: IMAGO
Ngày 15-10, tạp chí Nikkei Asia đăng bài bình luận do ông Jonathan Cobb, chuyên gia cấp cao phụ trách chương trình khí hậu của Hiệp hội Hạt nhân thế giới (WNA), chắp bút. Trong đó, ông Cobb cho rằng đã đến thời điểm chín muồi để Đông Nam Á xây dựng năng lực điện hạt nhân.
Bài viết được đăng trong bối cảnh các nước ASEAN đang ra sức củng cố an ninh năng lượng sau cú sốc từ khủng hoảng eo biển Hormuz.
Mới đây, tại Hội nghị Bộ trưởng năng lượng ASEAN lần thứ 44 ở Manila ngày 7 và 8-10, ASEAN cho biết đang thúc đẩy 7 ưu tiên năng lượng trong năm nay, trong đó có một nghiên cứu về tài chính và phát triển nhân lực cho nhà máy điện hạt nhân.
Tự chủ là tất yếu
Cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz đã gióng một hồi chuông cảnh tỉnh về an ninh năng lượng cho các nước Đông Nam Á, khi đẩy nhiều nước vào cảnh thiếu nhiên liệu.
Nhiều nước đã phải phát cảnh báo quốc gia về năng lượng, cũng như đưa ra các biện pháp tình thế như khuyến khích làm việc tại nhà.
Đông Nam Á hiện vẫn phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu để phát điện, phần lớn từ Trung Đông. Trước xung đột, khoảng 60% dầu thô và 1/3 khí đốt nhập khẩu của ASEAN đến từ khu vực này.
Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), chi phí nhập khẩu năng lượng của toàn khu vực có thể tăng từ 80 tỉ USD năm 2024 lên 245 tỉ USD năm 2035.
Áp lực nhu cầu cũng ngày càng lớn. Theo IEA, Đông Nam Á chiếm 9% dân số nhưng chỉ nhận 3% tổng đầu tư năng lượng toàn cầu, trong khi sẽ chiếm 20% mức tăng trưởng nhu cầu năng lượng toàn cầu từ nay đến năm 2035.
Bình luận trên Nikkei Asia, ông Cobb cho rằng hiếm khu vực nào vừa có nhu cầu điện tăng nhanh, vừa phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu bấp bênh, lại vừa có đủ năng lực công nghiệp để thay đổi tình thế như Đông Nam Á.
"Đây chính là những điều kiện để điện hạt nhân có thể củng cố an ninh năng lượng, đồng thời hỗ trợ quá trình giảm phát thải", ông viết.
Thực tế, làn sóng tái khởi động các dự án nhà máy điện hạt nhân đang diễn ra tích cực trong khu vực.
Indonesia đã đưa hai nhà máy công suất 250 MW vào quy hoạch điện tại các tỉnh Bangka Belitung và Tây Kalimantan, hướng tới vận hành thương mại giai đoạn 2032 - 2034.
Philippines cũng đặt lộ trình đầy tham vọng với 1.200 MW điện hạt nhân vào năm 2032 và 4.800 MW vào năm 2050.
Thậm chí, Thái Lan còn dự kiến đưa lò phản ứng mô đun nhỏ (SMR) đầu tiên vào vận hành từ năm 2037, dù công nghệ này hiện mới được vận hành thương mại tại số ít nhà máy ở Nga và Trung Quốc.
Hợp tác cùng giải bài toán năng lượng

Một lò SMR được xây dựng tại Trung Quốc - Ảnh: TÂN HOA XÃ
Tuy nhiên, năng lực hạt nhân không phải là câu chuyện một sớm một chiều. Ông Cobb kêu gọi chính phủ các nước Đông Nam Á bắt tay xây dựng ngay, bởi phát triển năng lực quản lý, hoàn thiện khung thể chế và xây dựng đội ngũ lao động lành nghề đều mất nhiều năm.
Đặc biệt, chuyên gia của WNA nhấn mạnh hợp tác khu vực có thể giúp nhiệm vụ quản lý trở nên vừa sức hơn. Theo ông, các nước ASEAN nên chia sẻ chương trình đào tạo kỹ thuật, so sánh yêu cầu cấp phép và tận dụng các đánh giá của những cơ quan quản lý giàu kinh nghiệm ở nước ngoài.
"Cách tiếp cận chung có thể giảm bớt việc làm trùng lặp và giúp nhà cung cấp phục vụ được nhiều thị trường. Cơ quan quản lý mỗi nước vẫn cần đủ chuyên môn và thẩm quyền để đánh giá một thiết kế và địa điểm có đạt yêu cầu hay không. Hợp tác phải giúp nâng cao chất lượng của chính những quyết định đó", ông viết.
Ông Cobb cũng cho rằng các nước trong khu vực gắn kết chặt chẽ với nhau. Vì vậy, hợp tác xuyên biên giới về an toàn và chia sẻ thông tin là cơ hội để củng cố lòng tin và trao đổi chuyên môn.
Về SMR, chuyên gia của WNA đánh giá loại lò này phù hợp với lưới điện và địa lý của một số nước trong khu vực, dù nhiều thiết kế vẫn đang trong quá trình tiến tới triển khai thương mại.
Theo Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), SMR có công suất từ 1-300 MW điện, tối đa chỉ bằng khoảng 1/3 nhà máy điện hạt nhân thông thường với công suất khoảng 1.000 MW. Loại lò này được xây theo mô hình mô đun, chế tạo sẵn trong nhà máy rồi vận chuyển đến nơi lắp đặt.
Nhờ vậy, các nước có thể bắt đầu với quy mô nhỏ, vốn ban đầu thấp hơn, rồi lắp thêm mô đun khi nhu cầu tăng.
Trả lời Đài DW, ông Tan Soo Jie Sheng, trợ lý giáo sư tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore), cho biết trước đây muốn phát triển điện hạt nhân thì phải xây những lò phản ứng quy mô lớn, thời gian thi công dài và vốn đầu tư ban đầu khổng lồ.
"SMR đã thay đổi cuộc thảo luận về hạt nhân ở Đông Nam Á, vì chúng có tiềm năng giúp điện hạt nhân phù hợp với lưới điện nhỏ hơn, các quốc gia nhỏ hơn và cách đầu tư theo từng giai đoạn", ông nói.
Dù vậy, nhà máy điện hạt nhân, kể cả SMR, vẫn đòi hỏi rất nhiều thời gian và tiền bạc. Những nước mới bước vào lĩnh vực này còn phải lập cơ quan quản lý độc lập, đào tạo đội ngũ chuyên môn, xây dựng hệ thống xử lý chất thải phóng xạ và ứng phó khẩn cấp.
Ông Tan cho rằng điện hạt nhân đặt ra yêu cầu đặc biệt cao đối với bộ máy nhà nước, bởi các thể chế cần nhiều thời gian để hình thành và phải vận hành tin cậy trong hàng chục năm. Theo ông, với những nước lần đầu phát triển điện hạt nhân, xây dựng hệ sinh thái này có thể tốn công sức không kém việc xây chính nhà máy.
Dù còn nhiều thách thức, ông Tan nhận định động lực cho điện hạt nhân ở khu vực đã khác trước.
"So với một thập kỷ trước, Đông Nam Á đang có động lực chính trị mạnh mẽ hơn nhiều đối với điện hạt nhân, và tôi nghĩ một số quốc gia cuối cùng có thể sẽ triển khai nó", ông khẳng định.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận