
Khối ngoại bán ròng liên tiếp trong bối cảnh lãi suất toàn cầu neo cao - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Tỉ lệ sở hữu nước ngoài trên HOSE xuống thấp nhất gần 8 năm
Tỉ lệ sở hữu nước ngoài trên HOSE tiếp tục thu hẹp trong tháng 10-2026, còn khoảng 13% vào ngày 29-10, so với 13,16% cuối tháng 9, 14,69% cuối năm 2025 và 16,83% cuối năm 2024.
Trước đó chỉ tiêu này giảm xuống 12,93% vào ngày 19-10, mức thấp nhất trong chuỗi dữ liệu từ cuối tháng 10-2018. So với đỉnh 21% hồi tháng 2-2020, tỉ lệ cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đã giảm khoảng 8 điểm phần trăm.

Tỉ lệ sở hữu nước ngoài trên HOSE giảm từ đỉnh 21% còn khoảng 13%
Diễn biến trên đi cùng hoạt động bán ròng kéo dài của khối ngoại. Theo dữ liệu giao dịch, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trên HOSE trong cả 10 tháng đầu năm 2026, với tổng giá trị 121.905 tỉ đồng.
Riêng tháng 10, giá trị bán ròng đạt 24.024 tỉ đồng, tăng gần 5 lần so với tháng trước và chiếm gần 20% mức bán ròng lũy kế từ đầu năm.
Đây là tháng bán ròng mạnh nhất năm 2026 và lớn thứ ba trong chuỗi thống kê từ cuối năm 2018, sau tháng 8-2025 với 42.200 tỉ đồng và tháng 9-2025 với 25.244 tỉ đồng.
Tính chung HOSE, HNX và UPCoM, khối ngoại bán ròng 20.848 tỉ đồng trong tháng 10.
Đáng chú ý, gần 60% giá trị bán ròng trên HOSE đến từ giao dịch thỏa thuận, tương đương 14.203 tỉ đồng. Riêng hai phiên 6-10 và 9-10 ghi nhận 12.295 tỉ đồng bán ròng qua phương thức này, chiếm gần 87% tổng giá trị bán ròng thỏa thuận cả tháng.
Đối với giao dịch khớp lệnh, khối ngoại bán ròng 9.821 tỉ đồng, gấp đôi tháng 9. Tuy nhiên cả hai chiều mua và bán đều giảm, lần lượt 28% và 15% so với tháng trước.
Cụ thể giá trị mua khớp lệnh giảm còn 31.071 tỉ đồng, trong khi giá trị bán đạt 40.892 tỉ đồng. Việc sức mua thu hẹp nhanh hơn chiều bán khiến chênh lệch giao dịch nới rộng, với 19 trong tổng số 22 phiên ghi nhận bán ròng qua khớp lệnh.
Trong cùng thời gian, VN-Index giảm 27 điểm, tương đương 1,53%. Như vậy, giá trị bán ròng lớn trong tháng 10 bao gồm cả các thương vụ chuyển nhượng cổ phần qua thỏa thuận và sự suy giảm tương đối của chiều mua trên thị trường khớp lệnh.
Gần 800 cổ phiếu có tỉ lệ sở hữu nước ngoài dưới 1% vốn
Không chỉ giảm về tỉ lệ sở hữu chung trên HOSE, mức độ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các cổ phiếu.
Trong 1.199 mã có dữ liệu sở hữu nước ngoài được thống kê vào đầu tháng 11, không bao gồm chứng chỉ quỹ, có 239 mã ghi nhận tỉ lệ sở hữu bằng 0%, tương đương gần 20%.
Số cổ phiếu có tỉ lệ sở hữu nước ngoài dưới 0,1% lên tới 505 mã, chiếm 42,1%. Đáng chú ý, có 797 mã ghi nhận mức nắm giữ dưới 1%, tương đương 66,5% tổng số cổ phiếu được thống kê.
Nếu mở rộng ngưỡng lên dưới 5%, số lượng tăng lên 952 mã, chiếm 79,4%. Ở chiều ngược lại, chỉ 102 cổ phiếu có tỉ lệ sở hữu nước ngoài từ 20% trở lên.

Gần hai phần ba cổ phiếu được thống kê có tỉ lệ sở hữu nước ngoài dưới 1%
Tỉ lệ sở hữu trung vị của nhóm cổ phiếu được thống kê chỉ đạt 0,26%, trong khi mức bình quân là 5,15%. Khoảng cách này cho thấy mức độ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài phân bố không đồng đều giữa các doanh nghiệp.
Sự chênh lệch cũng thể hiện rõ theo ngành. Nhóm ngân hàng có tỉ lệ sở hữu nước ngoài trung vị 12,53%, gấp gần 36 lần mức 0,35% của nhóm bất động sản. Dịch vụ tài chính ghi nhận 3,87%, còn sản xuất thực phẩm và hóa chất lần lượt đạt 0,56% và 0,34%.
Tại một số ngân hàng lớn, nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ 24,44% vốn VietinBank, 22,27% vốn VPBank, 20,81% vốn Techcombank và 19,85% vốn Vietcombank.
Ở các lĩnh vực khác, Vinamilk ghi nhận tỉ lệ sở hữu nước ngoài 49,65%, Thế Giới Di Động đạt 49%, Chứng khoán SSI đạt 29,92% và FPT đạt 26,85%.
Dù có tỉ lệ nắm giữ gần tương đương, dư địa mua thêm của nhà đầu tư nước ngoài tại Vinamilk và Thế Giới Di Động lại khác biệt đáng kể.
Trong khi lượng cổ phiếu Vinamilk còn được phép mua đạt khoảng 1 tỉ đơn vị, Thế Giới Di Động chỉ còn khoảng 1.700 cổ phiếu, gần như chạm giới hạn sở hữu nước ngoài hiện hành.
Ngược lại, tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại Vinhomes và Vingroup lần lượt đạt 6,3% và 3,07%, với dư địa mua thêm tương ứng khoảng 3,6 tỉ và 3,5 tỉ cổ phiếu.
Sự khác biệt này phản ánh khoảng cách giữa mức sở hữu thực tế và giới hạn nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài tại từng doanh nghiệp.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận