Phóng to |
|
Giữ môi quan hệ chặt chẽ với gia đình và tập thể sẽ giúp các “cánh chim non” thêm vững vàng |
Bằng chứng rõ rệt cho cách hiểu này đặt cơ sở dựa vào quyền được bầu cử (đủ 18 tuổi). Nhưng theo tôi, đây là những người tiềm tàng nhiều bất trắc nhất, xét theo nghĩa những xung động - va chạm và đổi thay của cấu trúc gia đình - nhà trường - xã hội.
1. Trước tiên phải thấy rằng việc rời gia đình để đến với một môi trường mới là một bước ngoặt thật đáng kể. Phần lớn SV đều là những người xa nhà lần đầu tiên và cũng là lần đầu tiên phải tự chăm sóc chính mình. Không còn cha mẹ ở bên để đỡ đần khi ốm, khi đau; phải biết cách tính toán sao cho mỗi đồng xu đều có ích, và kể cả việc tự làm quen với cuộc sống cô đơn cho dù bắt đầu có những người bạn mới.
Trạng thái gia đình một người thật lắm thách thức. Cái tự mình trong mọi vấn đề nếu không được chuẩn bị tốt sẽ khó tránh khỏi những lẫn lầm, mất mát. Đây là thời điểm mà SV ở tập thể dễ va chạm và dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt với SV nữ. Qua khảo sát không chính thức của tôi, khoảng hơn 30% nữ sinh đã “kịp” trở thành đàn bà trước khi hiểu đời chính là ở năm học đầu tiên này.
Tỉ lệ đó cao hơn bất kỳ năm nào trong ba năm còn lại ở trường đại học. Tất nhiên những người lạc quan sẽ phản đối ý kiến có thể hơi chủ quan của tôi, nhưng có không ít những người bi quan đã nghĩ không giống thế. Nhưng quả thật, sự chống chếnh, thiếu kinh nghiệm và cái hưng phấn quá khích của khái niệm lần đầu tiên biết thế nào là “tự do” đã trở thành “người bạn đường” đầy tai họa của những sai lầm.
2. Dù sống ở tập thể hay nhà trọ thì khoảng thời gian mà tôi tạm gọi là giai đoạn ngơ ngác cũng phải đương đầu với vô số những điều phức tạp. Sở dĩ tôi gọi vậy vì đã từng có một bài “thơ” vần ác thật “hay”: năm thứ nhất ngơ ngác, năm thứ hai phét lác, năm thứ ba xơ xác, năm thứ tư tan tác. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh sống tập thể.
Phóng to |
Còn nếu sống nhà trọ, sẽ thật là không may nếu rơi vào một điểm cư trú phức tạp, nhất là trong tiểu khu định cư đó cùng chung sống nhiều tầng lớp, nhiều nghề nghiệp khác nhau. Những “tấm gương” dập dìu đôi lứa, những đồng tiền dễ dãi làm thay đổi rất nhanh quan niệm của những con nai ngác ngơ trên mặt đất có vô khối lá vàng. Cái đáng phải lo ngại là một khi đã bước qua giới hạn cuộc đời (tôi loại trừ lý do của những tình yêu đích thực) thì sẽ là những buông thả của trạng thái tâm lý không còn gì để mất.
3. Đối với SV nam; tuy nhu cầu có ít hơn nhưng đòi hỏi lại đến từ những dạng khác. Họ không có những ưu thế đặc biệt như nữ giới nên con đường để thay đổi có một khoảng thật gần là các dạng của trò chơi đỏ đen, phổ biến nhất là bóng đá. T
hống kê tương đối cũng cho biết không ít hơn 50% SV nam có tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên trò cá độ bóng đá. Khả năng ngăn ngừa là bằng không, trừ ý thức tự giác của mọi người. Nhà trường có biết không? Câu trả lời là có. Nhưng về lý thì không thể can thiệp, về tình thì lại là chuyện nhạy cảm khó nói. Không có một sự chỉ dẫn nào ngoài sự nhắc nhở mà cụm từ một số có biểu hiện không lành mạnh đã gần như là thành ngữ điển hình của thời đại (!).
4. Thành phần dễ bị lung lạc nhất là những SV đến từ nông thôn. Những bộ quần áo “lò xo” mới hôm qua là điều bình thường của ruộng đồng thì giờ đây trở thành đối tượng của các phép so sánh đầy ẩn ức. Một nhu cầu thay đổi sao cho “quạ hóa ra công” càng nhanh càng tốt tức khắc diễn ra. Qui trình ấy là điều tự nhiên của sự hợp lý; trừ một thứ, đó là điều kiện. Khi mà một chiếc quần jean hợp mốt tương đương với giá của một tạ thóc thì bài toán của nhu cầu là bất khả thi. Con đường của một nghiệm đúng chia hai ngả: hoặc là thôi, hoặc phải tìm thấy những điều cần tìm.
Tôi nghĩ rằng đối với phụ nữ nói chung và đặc biệt là SV nói riêng, trang phục và các khoản mua sắm là một thứ hấp lực có sức mạnh gần bằng với ma túy. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên nếu chiều thứ bảy hay chủ nhật hằng tuần có nhiều xe con lắm lắm đậu - chờ trước cổng ký túc xá của trường đại học. Số liệu thống kê tương tự đã có rồi: Bệnh viện Từ Dũ mỗi ngày tiếp nhận hàng trăm ca, phần lớn là nữ sinh! Nền kinh tế thị trường mặc nhiên đẻ ra rất nhiều những “đứa con cùng mẹ khác cha”. Đó là nhu cầu bán mua song hành với những cái nhập nhòe cho - nhận; là những “tình yêu” thoảng qua như gió bởi suy cho cùng, mấy năm học cũng chỉ là một trận gió thôi mà. Gió có mạnh đến mấy cũng có lúc phải ngừng.
Ra trường, con đường dài phía trước lại nguyên mới và khác lạ. Đây là một nguy cơ rất thật cho dù tỉ lệ này không cao - chiếm khoảng 20% trong số những nữ sinh có chút nhan sắc. Nếu ai đó hốt hoảng trước sự thật này thì hãy thử một lần quan sát thực hư: hầu hết những SV nữ có “dế con” đều ít nhiều là “bạn bè” của nhan sắc.
5. Bài toán vừa nêu ở trên là một bài toán thật sự khó giải đối với những gia đình nghèo có con học đại học. Tôi đã từng nghĩ để cố tìm một câu trả lời khả dĩ nhưng hoàn toàn bất lực. Sự phân hóa giàu nghèo càng lớn thì nhu cầu giải thoát của những SV có đời sống khó khăn càng cao. Thật đúng là mê cung của sự nhức đầu. Khi B.D., một nhà xã hội học, đề nghị tôi viết bài, thì điều đầu tiên tôi nghĩ đến là vấn đề này. Giáo dục từ lúc nhỏ, trước khi “cánh chim” bay đi là điều cần thiết thứ nhất.
Chuẩn bị tốt đến mức có thể cho sự thay đổi của con cái là điều thứ hai. Đến đây thì quả là vừa sáo vừa đậm chất hô khẩu hiệu. Học bổng thì ít suất, gia đình lại nghèo; mốt và dầu gội đầu thì nhìn vào khi nào cũng thấy óng mượt... Do thế, sẽ không có cảm giác hoa mắt nếu... không thấy! Thách thức này là một nguy cơ ngay cả đối với những nước giàu. Bởi ngược lại thì Tokyo đã không có quầy hàng bán quần lót nữ sinh mới thay?
Giải pháp thứ ba theo tôi nghĩ chỉ có thể là nhà trường và tổ chức Đoàn. Tăng tính cộng đồng và đề cao nguyên tắc chống chủ nghĩa hình thức là điều đáng làm. Tuy nhiên đây chỉ là giải pháp ngọn cho sự hài lòng của cảm giác giật gấu vá vai. Không ít lần tôi đã phải xót xa khi thấy SV chê quần áo của thầy không đẹp, mobile đề mốt. Nếu nhận thức ấy là phổ biến thì thật là nguy hiểm. Thầy đã già còn bị chê, người trẻ thì sao?
6. Những liên hệ tình cảm với gia đình ngày càng xa cách là một tất yếu khách quan. Tính trách nhiệm của cha mẹ bị lung lay không phải tự họ muốn mà là vì họ cho rằng đã “bị” con cái bỏ rơi. Mặc cảm này sẽ “hướng dẫn” cho những liên hệ ở thời điểm “từ đó” đồng nghĩa với sự bắt đầu phai nhạt dần yếu tố trách nhiệm.
Dường như “các ngài” SV chỉ còn nhận được ở gia đình những nụ cười sau mỗi lần trở về cùng với việc “tiếp nhiên liệu” phải có. Còn lại, gia đình phó mặc cho nhà trường và xã hội. Đây là hiện tượng không hiếm một chút nào, nhất là trong xã hội chúng ta - từng được “nuôi dưỡng” bằng sự “an tâm” ngàn đời trời sinh voi sinh cỏ. Vì vậy, một khi cánh chim bay đi, phải hiểu rằng khoảng trống là rất lớn đối với con cái. Thậm chí chúng còn cần sự quan tâm, dìu dắt hơn bao giờ hết.
Những cánh chim có thể bay đi vì chúng đã trưởng thành. Nhưng những “đường bay” của SV thì còn lâu mới hết ngập ngừng, non trẻ. Ranh giới giữa kiến thức và cuộc đời ngắn hơn cả các bi kịch. Những “người lớn” của hiểu biết là chuyện của tương lai; còn cuộc sống vất vả, khó khăn là đa số của thường ngày. Ở đó có rất nhiều cạm bẫy mà những chú chim mới ra ràng không khi nào hiểu đủ, trừ khi đã là quá muộn...


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận