Nón lá Huế có màu trắng xanh nhẹ, dưới ánh sáng hiện lên những hoa văn khéo léo và thi vị. Dưới cái nắng như đổ lửa của miền Trung, ngắm người con gái Huế che nghiêng vành nón mà thấy được cả những công trình kiến trúc tinh túy của Huế như cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ, Đại Nội… vừa gợi cảnh, vừa gợi tình:
Áo trắng hỡi thuở tìm em chẳng thấy Nắng mênh mang mấy nhịp Trường Tiền Nón rất Huế nhưng đời không phải thế Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng
Nón Huế xưa nay được ca ngợi là thế, nhưng mấy ai hay vật dụng này giờ đây đang bị nhạt màu.
Ế ẩm đầu ra…
![]() |
Những hàng nón ở chợ Đông Ba nay phải bán kèm hàng lưu niệm để kiếm sống |
Chợ Đông Ba từ lâu là đầu mối chính, nơi tập trung đủ loại nón Huế, trung bình tiêu thụ hơn một triệu nón mỗi năm. Vậy mà đến nay, số sạp nón chỉ còn khoảng một phần ba so với hai năm trước. Vào thời điểm Nhà nước ban hành quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm trên tất cả tuyến đường, những người kinh doanh nón lá nghe như có “tiếng sét ngang tai”.
Có lần trả lời phỏng vấn, bà Nguyễn Thị Lê Thọ - Trưởng Ban Quản lý chợ Đông Ba phải ngậm ngùi chia sẻ về sự đìu hiu của nón, khi không hẹn mà gặp, nhiều hộ đã “đồng ý chí” xin nộp đơn chuyển mặt hàng kinh doanh, dù giá thuê mặt bằng được ưu đãi giảm đến 30%. Chiếc nón cổ truyền đang mất dần chỗ đứng trong thời đại của nón bảo hiểm.
O Biên, một tiểu thương trong chợ vốn sinh sống bằng chiếc nón lá cho biết, trước đây mỗi ngày có khi bà bán hơn chục chiếc nón đủ kiểu, ít thì lời cũng bốn, năm chục ngàn, gặp khách Tây “sộp” thì có khi được cả trăm ngàn đồng. Nay thì mỗi ngày chỉ bán được hai chiếc nón. Sạp hàng của bà đã được bổ sung thêm vài món hàng khác như bánh in, bánh đậu xanh, bánh bột khô… để cứu lấy sự ế ẩm của nón, kiếm thêm đồng ra đồng vào. Ở nhiều sạp khác, nón bài thơ được bán cùng với… nón bảo hiểm cho hợp thời!
Cũng như nhiều người bán khác, gặp khách, giọng o Biên chào mời rất ngọt và rất... quyết liệt: “Em ơi, răng không mua chiếc nón làm quà?”. Nhưng có lẽ lời chào mời ngọt lịm vẫn chưa đủ sức “lay động” người mua nên ế vẫn hoàn ế. Có đến vài chục lý do cho sự ế ẩm này.
“Nón bán cho ai? Cho các chị, các mệ đi chợ à? Rứa thì vài năm họ mới thay một cái. Cho các nữ sinh áo dài đội đi học cho đẹp? Chuyện ni xưa như… trong thơ rồi! Chừ ai cũng đội nón bảo hiểm, mua nón lá mần chi cho tốn của? Du khách trong nước chừ đến Huế có mấy ai mua nón mang về cho phiền phức, cồng kềnh, bất tiện. May ra được khách nước ngoài hỏi mua, nhưng mỗi ngày được mấy người? Ít lắm!” - o Biên “phân tích”.
![]() |
O Biên đang chào mời "quyết liệt" một du khách nữ |
Theo tiểu thương chợ, lần gần đây nhất nón lá Huế có cơ hội tràn ngập các nẻo đường là dịp Festival Huế 2008. Nón treo lủng lẳng khắp nơi làm... vật trang trí, đạo cụ trình diễn thời trang, thôi thì đủ cả, nhưng cũng chỉ được vài ngày rồi thôi.
Thăm làng nón thời mũ bảo hiểm
Theo thống kê sơ bộ, năm 2008, thành phố Huế vẫn có khoảng 900 gia đình làm nghề chằm nón, thu hút gần hai ngàn lao động. Huế có số lượng làng nghề làm nón nhiều nhất nước, nổi tiếng thì có Đồng Di, Tây Hồ, Phú Cam… với nón Bài thơ nức danh, rồi La Ỷ, Nam Phổ, Đốc Sơ với nón chằm ba lớp, ngoài ra còn có Dạ Lê, An Cựu, Triều Sơn chuyên làm nón “đội đi chợ” thông thường. Nhưng xem ra, khái niệm “làng nghề nón” có lẽ chỉ đúng với nghĩa nhiều nhà trong làng biết và có làm nón. Làm chứ không sống bằng nghề, cũng chẳng ai làm nón để tạo nguồn thu nhập chính.
![]() |
Du khách Tây đội nón lá trên đường phố Huế |
Trước khi thăm làng nón Tây Hồ (xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, được xem là một trong những làng chằm nón nổi tiếng bậc nhất của Huế), chúng tôi tưởng tượng sẽ bắt gặp những nếp nhà chất đầy nón và lá, già trẻ lớn bé quây quần, miệt mài bên khung chằm, người vuốt ủi lá, kẻ nhanh tay sơn dầu, đơm chỉ và cả những công cụ chuyên dụng như lò sấy lá. Thế nhưng đến nơi chúng tôi mới té ngửa khi lang thang mãi mà vẫn chỉ thấy… rơm rạ trước các nếp nhà, tuyệt không thấy cảnh tượng làm nón.
Gặp vài phụ nữ đang họp chợ, chúng tôi hỏi thăm đường đến làng nón Tây Hồ thì nhận được câu trả lời: “Làng ni là Tây Hồ, nhà mô cũng biết chằm nón hết”. Nhìn gương mặt ngơ ngác của chúng tôi, một o cười tươi trả lời: “Nghề ni làm khi rỗi việc, chừ đang mùa đồng áng, có nhà mô chằm?”.
Sau một hồi loay hoay, chúng tôi được giới thiệu đến nhà o Dương Thị Quyết, một trong số ít gia đình còn sống bằng nghề nón do gia cảnh neo đơn, đồng áng không nhiều. Người phụ nữ nhỏ thó gần 50 tuổi nhưng đã có thâm niên chằm nón hơn 40 năm, từng được giải nhất cuộc thi tay nghề chằm nón thủ công năm 1991, đến trận đại hồng thủy lịch sử năm 1999 thì kỷ vật duy nhất với nghề nón là tấm giấy khen cũng bị cuốn trôi (từ đó đến nay, chưa có cuộc thi chằm nón nào khác được tổ chức!).
Chị cho rằng cái nghề “gia truyền” này đến đời chị xem như là chấm dứt, bởi lớp người trẻ như con chị thường đi theo nghề khác chứ không chịu ngồi chằm nón vì rất mất thời gian. Người giỏi việc chỉ chằm nhanh nhất được ba, bốn nón mỗi ngày, còn người thạo nghề thường thì hai nón. Nón bán sỉ ở chợ được từ 11.000 - 13.000 đồng, trừ tiền vật liệu thì còn lời khoảng sáu, bảy ngàn. Khi đầu ra ngày càng eo hẹp, số tiền lời từ vài chiếc nón chẳng khác nào muối bỏ biển.
![]() |
Thành quả một ngày chằm của o Quyết thường không quá bốn chiếc nón |
“Nghề ni chắt chiu khi mô cũng có hết, nhưng chỉ xem là nghề phụ để lấy tiền mua mắm, muối trong nhà. Nhà không có đàn ông nên tui mới lấy nghề nón sống qua ngày. Có sức khỏe, nhiều người thà đi phụ hồ, trần thân nắng gió nhưng ngày nào nhận công ngày đó, ít nhất cũng được 30 ngàn cho ổn định” - chị Quyết cho biết.
Nhiều người theo nghề không nổi phải bỏ làng đi xa làm ăn. Kim Long, Phú Cam, An Cựu, Dạ Lê... những làng nón nổi tiếng xưa giờ đều chỉ còn chưa đến mươi nhà bám trụ nghề truyền thống này.
Đường kim mũi cước buồn đến bao giờ?
![]() |
Nón bài thơ nức danh của Huế đang ngày càng mai một |
Theo lời những người dân làng nón Tây Hồ, nghề nón lay lắt như thế đã vài ba năm nay, nhưng vẫn được xem như “còn sống”. Bây giờ vào kỷ nguyên của nón bảo hiểm, chiếc nón lá mới thật sự “thoi thóp”. Ngày mùa rảnh rỗi hoặc khi hè đến mới thấy được chút sinh khí của làng nghề.
Chúng tôi may mắn được gặp một cụ bà năm nay đã ngoài 70, vẫn khâu chỉ vành thoăn thoắt không cần đeo kính. Hơn 60 năm tay lá tay chỉ, bà kể thời hoàng kim chằm một tập nón sắm được vàng, nhưng bây giờ công chằm một tập nón chưa đủ tiền đong gạo cho cả nhà vài bữa. Buồn nhất là nón chằm ra tiêu thụ rất chậm, có khi bị ghim hàng đến vài tháng.
Theo Sở Công thương Huế, ngân sách hỗ trợ cho các làng nghề thủ công không nhiều, năm 2008 chỉ khoảng 800 triệu đồng cho tổng số 13.700 cơ sở tiểu thủ công nghiệp của toàn tỉnh. Mặt khác, những làng nghề cũng thiếu định hướng để phát triển lâu dài nên hầu hết phải tự bơi, tự tìm đầu ra cho chiếc nón. Vì vậy, khi tình người chằm đã không mặn, chiếc nón Huế giờ cũng bớt đi phần nào vẻ đẹp tinh tế xưa.
Một tiểu thương chợ Đông Ba cho biết: “Tâm lý thợ chừ chỉ thích chằm nón thường cho nhanh, đỡ tốn sức và lời hơn. Nhiều chiếc nón Bài thơ kiểu dáng rất xấu, khi thì thêu hoa lòe loẹt, khi thì phần ảnh chìm lem nhem nhìn không ra. Có lần, nhập hàng về hai mươi chiếc, tôi đã phải trả lại chín chiếc vì biết có để cũng không bán được. Khách du lịch trong nước giờ kỹ tính lắm, họ soi từng dây buộc một nên phải có nón được được. Nón xấu thì may ra để “lừa” khách nước ngoài...”.
Cũng vì nhiều người bán có suy nghĩ như vậy, nón lá ở chợ Đông Ba giờ ít thu hút du khách Tây. Họ thường tìm đến “nón Thúy” - một trong số ít thương hiệu nón lá được ưa chuộng ở Huế. Chị Trần Thị Thúy, gần 40 tuổi nhưng đã có đến hơn 30 năm kinh nghiệm trong nghề chằm nón.
![]() |
Chị Thúy đang hướng dẫn một du khách chằm nón |
Với người dân Huế, chị Thúy không chỉ là tấm gương cho sự vượt khó vì bị dị tật bẩm sinh, mất một bàn tay, mà còn đáng quý ở tấm lòng muốn sống bằng nghề nón và giữ gìn nghề nón, trong khi không ít hàng xóm láng giềng ở Phú Cam nơi chị sống đã lần lượt “treo khung từ nón”. Không ít du khách đã lặn lội tìm đến tận nhà chị để có được một chiếc nón có “đóng dấu” bằng một chữ Thúy thêu bên trong.
Những tưởng chị là một trong số ít thợ chằm nón còn sống được từ nguồn thu từ khách du lịch, nhưng qua lời chị kể, tình hình của “nón lá có thương hiệu” như chị cũng bi đát lắm: “Ai cũng nghĩ tôi đeo nghề được là nhờ có khách du lịch, nhưng thực sự thì cũng chỉ bán lai rai, bởi khách đến xem thì nhiều, chứ mua nón chẳng bao nhiêu. Có mối bán cho khách Tây như tôi mà mỗi ngày cũng chỉ kiếm được ba đến bốn chục ngàn, những người buôn chợ thì giỏi lắm một ngày chỉ thu về hai chục”.
Chị đau đáu với tình hình làng nghề tiêu điều. Thời cả làng cùng làm nón, cả nhà cùng đơm nón đã xa lắm rồi. Vấn đề bảo tồn, khôi phục các làng nghề truyền thống năm nào cũng được chính quyền địa phương nhắc đến, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được lối ra cho chiếc nón lá Huế. Với tình hình mai một như hiện nay, rất có thể một ngày nào đó, chiếc nón bài thơ nức danh xứ Huế sẽ bị chính thức thất truyền cách làm. Vậy mà có thời, chị từng mơ nón Huế lên đường xuất khẩu...
Câu thơ đề trên nón trước đây, giờ được nhiều người bán nón xứ Huế thêm thắt đôi chút cho hợp thời và nghe não ruột hơn:
Ai ra xứ Huế mộng mơMua giùm chiếc nón bài thơ làm quà!
Đúng là “Nón rất Huế nhưng đời không phải thế”!
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận