
Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường An Khánh, TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Bộ Tư pháp vừa công bố dự thảo thông tư hướng dẫn Nghị định 23/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực giao dịch, thay thế Thông tư 01/2020/TT-BTP.
Theo tờ trình dự thảo, trong nhiều năm áp dụng, thông tư số 01 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Song một số hạn chế cần được bổ sung như chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; số lượng công chức thực hiện tư pháp - hộ tịch tại cấp xã còn hạn chế...
Từ đó dự thảo có nhiều đề xuất, bổ sung quy định về chứng thực đáng chú ý.
Dự thảo mới sẽ thay thế việc “phê duyệt danh sách cộng tác viên dịch thuật” bằng việc “chứng thực chữ ký người dịch” nhằm bảo đảm phạm vi điều chỉnh bao quát đầy đủ các nội dung liên quan đến chứng thực chữ ký người dịch, trong đó có quy định về phê duyệt danh sách cộng tác viên dịch thuật.
Ngoài ra bãi bỏ nội dung "thẩm quyền chứng thực tại các huyện đảo" để phù hợp với quy định về chính quyền địa phương 2 cấp.
Bên cạnh đó ở dự thảo thông tư mới, trưởng phòng công chứng, trưởng văn phòng công chứng có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý đối với giấy tờ, văn bản được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực chữ ký người dịch do cơ quan, tổ chức mình thực hiện chứng thực không đúng quy định.
Đồng thời bổ sung quy định về trường hợp phát hiện giao dịch đã được chứng thực có nội dung vi phạm quy định của pháp luật, thì các bên tham gia giao dịch có thể thỏa thuận bằng văn bản về việc hủy bỏ giao dịch.
Trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc có tranh chấp về giao dịch, thì yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp cho cá nhân gồm hộ chiếu, thẻ căn cước, thẻ thường trú, thẻ cư trú, giấy phép lái xe, bằng tốt nghiệp, chứng chỉ và bảng điểm kèm theo bằng tốt nghiệp, dự thảo mới quy định không phải hợp pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính.
Trường hợp chứng thực chữ ký người dịch trên bản dịch các giấy tờ này cũng không phải hợp pháp hóa lãnh sự.
Đối với các giấy tờ khác được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại cũng không phải hợp pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính, hoặc chứng thực chữ ký người dịch.
Cũng theo dự thảo mới, chứng thực chữ ký trong tờ khai lý lịch cá nhân chỉ xác nhận chữ ký của người khai, không xác nhận nội dung tờ khai; người thực hiện chứng thực không ghi nhận xét về nội dung tờ khai và người yêu cầu chứng thực chịu trách nhiệm về nội dung đã kê khai (quy định rõ hơn so với trước đây).
Bỏ quy định "chỉ được chứng thực giấy ủy quyền trong 4 trường hợp"
Nghị định 23/2015 quy định việc chứng thực chữ ký trong giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản.
Tuy nhiên khi hướng dẫn quy định này, Thông tư 01/2020 của Bộ Tư pháp đã quy định cụ thể hơn.
Theo đó, chỉ được chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền trong 4 trường hợp: Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ; ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp; ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa; ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nay Bộ Tư pháo dự kiến sẽ bãi bỏ quy định này. Đảm bảo phạm vi các trường hợp được chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền được thực hiện thống nhất theo quy định của Nghị định 23, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong quá trình áp dụng.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận