Phóng to |
| Thùy Trâm những ngày khói lửa - Tranh màu dầu: Phạm Mùi |
Đúng Giáng sinh năm 1966, tôi bắt đầu cùng một đoàn cán bộ chuyên môn gồm trên 70 người hầu hết là y, bác sĩ cùng một số văn nghệ sĩ vượt Trường Sơn vào miền Nam công tác. Trong đoàn, tôi đặc biệt để ý một người con gái có gương mặt hiền, nụ cười rạng rỡ. Người ấy là bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Tên thường gọi là Thùy.
“Em là hoa pơlang”
Khi đoàn chúng tôi vào đến miền Nam thì hoàn toàn phải cuốc bộ. Mỗi người thường xuyên mang trên mình hơn 30kg gồm tư trang, lương thực thực phẩm, dụng cụ chuyên môn và thuốc men.
Sau một tuần hành quân, chúng tôi ai cũng bắt đầu thấy mỏi mệt rã rời. Thế mà Thùy vẫn thường cùng ca sĩ Thanh Đính hát phục vụ toàn đoàn trong những lúc dừng chân nghỉ bên đường như một ca sĩ thực thụ. Giọng của Thùy không khỏe như ca sĩ chuyên nghiệp nhưng khá truyền cảm.
Những lúc Thùy hát, tôi thấy Thùy rất xinh đẹp. Bài Thùy hay hát là Em là hoa pơlang. Hoa pơlang như thế nào hồi đó tôi chưa từng biết. Vậy mà qua giọng hát của Thùy, tôi thấy loài hoa ấy hiện lên trong trắng, sáng ngời và ngát hương. Còn người con gái trong ca từ “Anh ơi em sẽ là pơlang - hoa đẹp nhất, thứ hoa dân làng quí...” cứ hiển hiện trong tôi là hình ảnh của Thùy.
Mãi đến tận bây giờ, mỗi khi được nghe lại ca khúc này, tôi cứ thấy hình bóng thân thương của Thùy lắng đọng trong tôi. Vâng, hình bóng thân thương. Tôi muốn dùng nguyên hai từ mà Thùy thường viết “Mùi thân thương” trong những lá thư Thùy gửi tôi suốt những năm chiến trường khốc liệt, khi Thùy và tôi là những người bạn thân thiết.
Trong khi Thùy hát Em là hoa pơlang, tôi vội mở cặp ra vẽ Thùy. Tôi cố tình chọn góc, lén vẽ để Thùy được tự nhiên. Thế nhưng không ngờ ngay sau khi hát xong, Thùy đã hồn nhiên chạy thẳng đến chỗ tôi đòi xem bức ký họa tôi vừa vẽ, reo lên vui mừng, sung sướng rồi cố xin bằng được bức vẽ đó. Là họa sĩ, tôi cũng vui không kém. Tôi đã ký tặng ngay cho Thùy và hứa còn sẽ vẽ Thùy nhiều nữa.
Phóng to |
| Trên đường Trường Sơn - Ký họa: Đức Nhuận (Phạm Mùi) |
Cho đến bây giờ, sau hơn 30 năm Thùy hi sinh, hình ảnh của Thùy trở nên rực rỡ trong tôi, tôi nhận ra tất cả chính là tầm văn hóa sâu lắng của Thùy.
Hát cho đến người cuối cùng đi qua
Tranh thủ việc ngưng bắn phá của máy bay Mỹ trên lãnh thổ miền Bắc trong dịp Giáng sinh, nên đoàn chúng tôi chỉ tập luyện thể lực trong vòng bảy ngày thay vì ba tháng, vì vậy khi cõng nặng hành quân, tất cả chúng tôi đều sớm bị trầy cả lưng và xuống sức. Một hôm, thấy máu đẫm ra lưng áo của Thùy, tôi liền bảo Thùy sang bớt đồ đạc cho tôi cõng giúp. Nhưng Thùy một mực không chịu.
Mặc, tôi cố giành phần lương thực dự phòng của Thùy để mang giúp. Chúng tôi đang giằng co thì Thùy phát hiện lưng áo tôi cũng bị đẫm máu ra ngoài, thế là Thùy có cớ lấy lại một phần để ráng sức cõng. Thấy Thùy quyết tâm vượt gian khổ như thế, tôi vô cùng cảm động. Từ đó, chúng tôi chỉ cắn răng chịu đau bước đi, không nói chuyện với nhau nhiều như trước nữa.
Phóng to |
Một lần trời mưa tầm tã, đoàn chúng tôi hành quân đến cuối ngày thì đến giữa một khu rừng già bùn lầy gần đến đầu gối. Cô giao liên người nhỏ lanh lợi, có cặp mắt to đen dõng dạc nói với chúng tôi: “Đây là bãi khách. Các đồng chí nghỉ lại ở đây. Suối lấy nước để nấu cơm các đồng chí xuống dốc bậc thang bên phải, mất 45 phút đi xuống. Dốc đứng, xuống lên rất nguy hiểm, xin các đồng chí lưu ý hết sức cẩn thận”. Nói xong, cô giao liên đi vội về phía dốc. Tôi chạy theo hỏi: “Cô ơi, còn trạm ở đâu”. Cô đáp: “Cách suối một giờ nữa, sáng mai sẽ có đồng chí khác ra đưa các đồng chí đi tiếp”. Cô giao liên đi. Đồng chí đoàn trưởng kêu gọi ba người xung phong xuống suối nấu cơm cho đoàn. Cùng lúc cả tôi và Thùy đều xung phong, sau đó anh y sĩ Phục cũng xung phong.
Trời vẫn tiếp tục mưa tầm tã. Anh chị em trong đoàn mỗi người lo căng tăng để tạo cho mình một “mái nhà riêng” rồi chặt cây làm giàn để balô và treo võng dưới tăng, thay đồ chuẩn bị ngủ. Trong khi đó tôi, Thùy và anh Phục cầm đèn pin cõng xoong, gạo, leo xuống suối để nấu cơm.
Đúng như cô giao liên đã thông báo, dốc đá xuống suối như một cái thang dựng đứng rất hiểm trở. Có đoạn chúng tôi phải quờ tay bám vào dây leo nếu không sẽ rơi xuống vực thẳm. Tôi lo cho Thùy quá. Tôi lo và ân hận là lúc nãy, khi Thùy xung phong, không hiểu vì sao tôi đã không ngăn cản. Nếu lỡ vì sức yếu Thùy bị té xuống thì sức tôi và cả anh Phục đang trong thế chênh vênh sẽ không thể nào đỡ nổi. Khi đó chắc chắn cả ba sẽ cùng rơi xuống vực thẳm đen ngòm. Tôi đành liên tục nhắc nhở Thùy và cố tình cùng Thùy leo rất chậm và cẩn thận.
Cuối cùng sau khoảng một giờ, chúng tôi cũng đến được dòng suối. Cả ba chúng tôi đều thấm mệt rã rời. Anh Phục nói: “Không biết nấu cơm xong có cõng lên nổi không?” Nghỉ một lát, chúng tôi căng tăng che mưa, dùng dao găm chặt những cây tươi thành từng đoạn ngắn như lóng mía rồi chẻ nhỏ, sắp những tăm mảnh nhất ở giữa và sắp những thanh to dần ra ngoài, rồi dùng quai dép cao su hỏng mồi lửa cháy từ trong ra. Ngọn lửa lớn dần sấy phần củi to bên ngoài.
Chừng 20 phút sau, chúng tôi đã vo gạo bắc xoong lên bếp. Sau đó cả ba ngồi coi xoong cơm, sưởi ấm cho khô quần áo. Thùy bỗng đọc câu đầu của bài thơ dài Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng của nhà thơ Chế Lan Viên. Tôi cũng cùng đọc. Cả hai chúng tôi đã đọc suốt cả bài thơ ấy.
________________________
Đêm ấy, tôi đã thức gần trọn đêm để nghe Thùy kể về những người thân yêu nhất của Thùy. Đầu tiên Thùy vừa khóc vừa kể rất nhiều về mẹ, về cha của Thùy, rồi những đứa em gái. Sau cùng, dường như không thể giữ riêng cho mình được, rất dè dặt, Thùy kể về mối tình đầu của Thùy.
Kỳ tới: Thùy và Đỗ Mộc



Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận