
Các chủ nhân của huy chương Fields 2026 (từ trái qua): ông Đặng Dục, ông John Pardon, ông Jacob Zimmerman, bà Vương Hồng - Ảnh: TÂN HOA XÃ
Thành quả mới nhất của hệ thống đại học tinh hoa Trung Quốc có thể được nhìn từ cột mốc mang tính lịch sử 90 năm của giải thưởng Fields (vốn được coi là "Giải Nobel Toán học") vào cuối tháng 7 vừa qua.
Tại Đại hội Toán học Quốc tế (ICM) diễn ra ở Philadelphia (Mỹ), hai nhà toán học người Trung Quốc Vương Hồng và Đặng Dục từng được đào tạo cử nhân trong nước trước khi hoàn thành chương trình sau đại học tại Mỹ và châu Âu đã đồng thời được vinh danh. Cả hai nhà toán học này đều là cựu sinh viên khoa khoa học toán học của Đại học Bắc Kinh.
Giới học thuật Trung Quốc "phát sốt" trước sự kiện lịch sử này. Nhà toán học người Trung Quốc đầu tiên đạt giải Fields vào năm 1982 Khâu Thành Đồng hoan hỉ: "Điều chúng tôi mong ước trong nhiều thập kỷ nay đã thành hiện thực".
Giáo sư Khâu, Viện trưởng Viện Cầu Chân (Đại học Thanh Hoa), người có nhiều năm giảng dạy tại các đại học hàng đầu của Mỹ, cho biết thêm: "Điều này mang lại cho chúng tôi niềm hy vọng mới. Giờ đây, chúng tôi có thể hình dung ra ngày mà những đột phá mang tính quyết định thực hiện bởi các học giả được đào tạo hoàn toàn tại Trung Quốc và được tiến hành trên đất Trung Quốc".
Hy vọng của giáo sư Khâu là có cơ sở. Việc hai tài năng trẻ Vương Hồng và Đặng Dục cùng đứng trên đỉnh cao nhất của giải thưởng toán học thế giới không phải là sự ngẫu nhiên.
Nhìn từ khía cạnh thể chế, đó là một thành quả mới nhất từ một chiến lược quốc gia được tính toán tỉ mỉ, kéo dài nhiều thập kỷ nhằm tái cấu trúc nền giáo dục đại học Trung Quốc, với hạt nhân là Liên minh C9 (C9 League), tức nhóm 9 trường đại học nghiên cứu hàng đầu đất nước.
Gốc rễ sâu xa của sự trỗi dậy đại học Trung Quốc bắt đầu từ thập niên 1990, khi Chính phủ Trung Quốc nhận ra rằng nếu muốn trở thành một cường quốc kinh tế và công nghệ, quốc gia này không thể tiếp tục phụ thuộc vào việc gửi nhân tài ra nước ngoài hay sao chép công nghệ. Trung Quốc cần những ngôi trường "đầu tàu" nghiên cứu đạt đẳng cấp thế giới ngay trên sân nhà.

Tháp đôi Quang Hoa của Đại học Phúc Đán - Ảnh: fudan.edu.cn
Đại học tinh hoa - trỗi dậy từ vực sâu tê liệt
Khó có thể tìm thấy một hệ thống giáo dục đại học nào trải qua sự thay đổi diện mạo ngoạn mục trong nửa thế kỷ qua như của Trung Quốc. Chỉ cách đây hơn nửa thế kỷ, hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc từng bị tê liệt, phải đóng cửa trong Đại Cách mạng văn hóa (1966-1976) dưới thời Chủ tịch Mao Trạch Đông. Khi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình quay trở lại chính trường và thực hiện cải cách mở cửa vào năm 1978, ông cũng mở lại các trường đại học.
Chỉ trong vòng hai thế hệ, quốc gia này đã đi từ những biến động của thời kỳ Cách mạng Văn hóa đến việc xây dựng một trong những hệ thống đại học lớn và có ảnh hưởng nhất thế giới khi có được cả các viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế lẫn quy mô đào tạo đại chúng.
Đến năm 2025, Trung Quốc đã có số sinh viên đại học gấp đôi Mỹ. Số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành STEM (Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật và Toán học) gấp bốn lần. Số lượng tiến sĩ STEM gấp đôi. Theo con số thống kê từ nhà nước Trung Quốc, hiện có khoảng 240 triệu người Trung Quốc có bằng đại học.
Một cột mốc đặc biệt nhất với giáo dục đại học Trung Quốc là ngày 4-5-1998, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân tại lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Đại học Bắc Kinh tuyên bố Trung Quốc sẽ xây dựng các đại học đẳng cấp thế giới.
Dự án này, được biết với tên Dự án 985, tập trung nguồn lực tài chính khổng lồ cho một nhóm nhỏ khoảng 39 đại học hàng đầu của Trung Quốc nhằm đưa họ vào hàng ngũ các trường đại học hàng đầu thế giới. Đó cũng là thời điểm các bảng xếp hạng đại học toàn cầu chuẩn bị xuất hiện, mở ra một chương mới hoàn toàn cho giáo dục Trung Quốc.
Cũng dưới thời ông Giang Trạch Dân, một làn sóng phân cấp quản lý đã diễn ra. Nhiều trường vốn thuộc các bộ ngành trung ương được chuyển giao về cho chính quyền cấp tỉnh. Bộ Giáo dục chỉ giữ lại một số ít trường hàng đầu. Đồng thời, Trung Quốc thúc đẩy việc sáp nhập để tối ưu hóa quy mô: từ những trường chỉ có 2.000 - 3.000 sinh viên, giờ đây các đại học lớn Trung Quốc trung bình có quy mô từ 50.000 - 80.000 sinh viên.
Đến thời Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào (2002-2012), giáo dục đại học bước vào giai đoạn đại chúng hóa mạnh mẽ, bắt đầu từ đợt mở rộng quy mô năm 1999.
Đến tháng 10-2009, 9 trường đại học nghiên cứu nhận được nguồn vốn đầu tư sớm nhất và lớn nhất từ Dự án 985 đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác, thành lập Liên minh C9 (C9 League), thường được truyền thông Mỹ gọi là "Ivy League của Trung Quốc", báo giới Anh gọi là "Russell Group của Trung Quốc".

Nhóm C9 và thế mạnh đặc trưng của từng trường
Các đại học C9 này, đặc biệt là Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, đã đạt được những bước tiến ngoạn mục trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu như QS, THE hay ARWU. Hai trường đại học hàng đầu này hiện đã vào nhóm Top 10 - Top 20 thế giới, cạnh tranh trực tiếp với các đại học lâu đời của Mỹ và châu Âu.
Các thành viên còn lại của khối C9 cũng liên tục duy trì vị thế trong Top 50 - Top 100 toàn cầu.
Sự bứt phá của khối C9 không đến từ những khẩu hiệu suông, mà được cung cấp bằng nguồn lực tài chính khổng lồ cùng thể chế linh hoạt. Nguồn vốn khổng lồ giúp nâng cấp toàn bộ cơ sở hạ tầng phòng thí nghiệm, mua sắm siêu máy tính, thu hút chuyên gia hàng đầu thế giới và tài trợ cho các dự án nghiên cứu mũi nhọn.
C9 không đơn thuần là nơi cấp bằng đại học. Khối này vận hành như nơi thúc đẩy chiến lược tự chủ công nghệ của Trung Quốc. Từ trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học lượng tử, bán dẫn, hàng không vũ trụ cho đến y sinh học, phần lớn các công trình nghiên cứu mang tính bước ngoặt và nguồn nhân lực hạt nhân của Trung Quốc đa số đều bắt nguồn từ các viện nghiên cứu thuộc C9.
Từ năm 2015 - 2017, Chính phủ Trung Quốc đã nâng cấp các dự án cũ thành Kế hoạch Song Nhất Lưu, tức hai cái nhất, bao gồm xây dựng đại học tầm thế giới và ngành học tầm thế giới. Thay vì đầu tư dàn trải, nhà nước bắt buộc các trường C9 phải cạnh tranh dựa trên hiệu suất nghiên cứu thực tế. Mỗi trường C9 được giao nhiệm vụ đưa các ngành mũi nhọn của mình lọt vào top 10 hoặc top 20 toàn cầu.

Lễ tốt nghiệp đại học của sinh viên Đại học Nam Kinh - Ảnh: nju.edu.cn
Nguồn tiền khổng lồ từ trung ương cho đại học tinh hoa
Theo một bài báo nghiên cứu năm 2022 về nguồn vốn cấp cho trường đại học công Trung Quốc của Alex Usher, chủ tịch của tổ chức tư vấn Higher Education Strategy Associates (HESA) tại Canada, giai đoạn 2006-2013 chứng kiến sự gia tăng ngân sách công kỷ lục: mức chi tiêu công cho giáo dục đại học Trung Quốc tăng trung bình khoảng 17%/năm.
Nguồn lực tài chính dồi dào này cho phép hệ thống giáo dục đại học vừa mở rộng quy mô tuyển sinh, vừa gấp đôi mức chi tiêu bình quân trên mỗi sinh viên.
Từ năm 2013, khi Chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu lên nắm quyền, tăng trưởng chi tiêu công cho giáo dục đại học đột ngột chững lại. Kể từ đó, ngân sách chỉ tăng trưởng dưới 2%/năm. Xét trên bình quân đầu sinh viên, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước tại Trung Quốc thực chất đang trên đà sụt giảm. Điều này phản ánh một mối tương quan đầy chú ý trong chính sách đầu tư công của Trung Quốc.
Những ngay cả khi tăng trưởng ngân sách giáo dục chung của cả nước bị siết chặt, nhóm đại học C9 vẫn duy trì được tốc độ gia tăng ngân sách nhà nước cao hơn mức trung bình, đồng thời bứt phá mạnh mẽ ở các nguồn thu ngoài ngân sách. Do vậy, khoảng cách về tiềm lực giữa nhóm trường tinh hoa này và phần còn lại của hệ thống ngày càng bị nới rộng.

Cơ cấu nguồn thu và tỉ lệ sinh viên, phân bổ ngân sách cho Liên minh C9
Ông Usher phát hiện, ngoại trừ Đại học Thanh Hoa có mức ngân sách vượt trội, phần lớn các trường còn lại trong nhóm C9 có "quy mô tài chính ngang bằng với các trường đại học lớn của Canada như Đại học British Columbia (UBC) hay McGill của Canada".
Hiện nay, ngân sách hằng năm của Đại học Thanh Hoa khoảng 40,39 tỉ nhân dân tệ (khoảng 5,9 tỉ USD), là ngân sách hoạt động lớn nhất trong số các cơ sở giáo dục đại học ở Trung Quốc. Đại học Chiết Giang có con số ngân sách xấp xỉ Thanh Hoa với 38,9% tỉ tệ (khoảng 5,7 tỉ USD), Đại học Giao thông Thượng Hải là khoảng 30,4 tỉ tệ (khoảng 4,5 tỉ USD).
Tinh hoa đi cùng bất công trong tài trợ các dự án nghiên cứu khoa học
Vậy nguồn vốn tài trợ nghiên cứu khoa học quốc gia được rót vào các trường đại học nào?
Ba nhà khoa học Ningjie Liu, Dongbo Shi và Jiyu Zhang trong nghiên cứu quy mô được xuất bản năm 2026 "Lập bản đồ lực lượng lao động khoa học của Trung Quốc: Bằng chứng từ 40 năm hồ sơ tài trợ nghiên cứu được phân loại rõ ràng của Quỹ Khoa học Tự nhiên quốc gia Trung Quốc" đã thu thập siêu dữ liệu của toàn bộ 746.732 dự án nghiên cứu do Quỹ Khoa học Tự nhiên quốc gia Trung Quốc (NSFC) tài trợ từ năm 1986 - 2023.
Về mặt quy mô, Quỹ NSFC của Trung Quốc giải ngân khoảng 4,5 tỉ USD mỗi năm, tương đương một nửa số tiền so với của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) nhưng đang tăng với tốc độ rất nhanh.
Nghiên cứu này cho thấy dù quy mô tài trợ đã mở rộng đến các trường tuyến dưới, nhưng các gói ngân sách chiến lược giá trị nhất vẫn bị thâu tóm bởi khoảng 40 đại học hàng đầu.
Mặc dù chỉ chiếm khoảng 3% tổng số học giả nghiên cứu của Trung Quốc, Liên minh C9 lại thường xuyên nắm giữ hơn 10% tổng ngân sách nghiên cứu quốc gia.
Dù các trường tuyến dưới cũng cố gắng xoay xở giành phần, ví dụ nhóm nghiên cứu thấy tỉ lệ nhận tài trợ NSFC của các trường không thuộc nhóm tinh hoa (chiếm 96% trong tổng số hơn 3.000 cơ sở giáo dục) đã tăng từ 8% (năm 1986) lên 35% (năm 2023), nhưng chủ yếu là các gói tài trợ nhỏ.
Các "chương trình trọng điểm" tài trợ cao vẫn tập trung mạnh vào khoảng 40 trường đại học hàng đầu. Nhóm này chiếm tới một nửa tổng ngân sách trọng điểm. Và ngay trong nội bộ khối C9, nguồn kinh phí lại tiếp tục co cụm vào một nhóm nhỏ hơn nữa.
Tình hình trong tương lai sẽ không cải thiện nhiều khi chỉ 4% các nhà nghiên cứu từng chuyển đổi cơ quan công tác (chủ yếu xuống trường tuyến dưới) - con số này thấp hơn rất nhiều so với Mỹ.
Trong một môi trường mà nhà khoa học hiếm khi dịch chuyển và vị thế trường học quyết định khả năng tiếp cận các gói ngân sách lớn, hệ thống phân cấp sẽ tự tái tạo chính nó. Hàng thập kỷ thực hiện các mục tiêu chính sách nhằm mở rộng năng lực nghiên cứu rốt cuộc mới chỉ phân bổ lại các khoản tài trợ nhỏ mà chưa thể thay đổi cấu trúc nền tảng giúp nâng toàn bộ hệ thống giáo dục và nghiên cứu Trung Quốc.
Mặt trái của thành công
Trong cuốn sách xuất bản cuối tháng 4-2026 có tên Giáo dục Đại học tại Trung Quốc: Nhu cầu trong nước và khát vọng toàn cầu, giáo sư Gerard A. Postiglione (Đại học Hong Kong), một chuyên gia về giáo dục Trung Quốc, nhận định Trung Quốc đang phải đối mặt với ba thách thức to lớn: việc làm cho sinh viên tốt nghiệp, cải cách quản trị và tiếp cận công bằng.
Postiglione phân tích cách các trường đại học hạng hai và hạng ba Trung Quốc đang phát triển vượt qua những áp lực này trong bối cảnh biến đổi do bất bình đẳng thành thị - nông thôn, nhu cầu thị trường lao động và sự gián đoạn công nghệ.
Giáo sư Postiglione nhận định Trung Quốc từng thành công rực rỡ trong việc trở thành "công xưởng thế giới" nhờ hạ tầng sản xuất và hệ thống giáo dục - đào tạo kỹ thuật đáp ứng chính xác nhu cầu công nghiệp, song khi chuyển đổi sang nền kinh tế sáng tạo và công nghệ cao, việc chính quyền trung ương lẫn địa phương chủ động điều chỉnh danh mục ngành học để phục vụ các ngành công nghiệp mũi nhọn (như AI hay STEM) vừa là động lực, vừa là bài toán về tính linh hoạt và sự cân bằng học thuật.
Nhóm nghiên cứu của Liu, Shi, Zhang và các đồng nghiệp cũng cảnh báo về hiện tượng "thắt cổ chai" trong tài trợ nghiên cứu ở Trung Quốc. Lý do là số lượng tiến sĩ STEM tốt nghiệp tăng nhanh gấp 3 lần so với khả năng cung cấp các quỹ tài trợ mới.
Số lượng nhà nghiên cứu Trung Quốc lần đầu nhận tài trợ NSFC đã chạm trần ở mức khoảng 22.000 người/năm từ năm 2011 và giữ nguyên suốt một thập kỷ sau đó. Từ năm 2011 đến 2022, số lượng tiến sĩ STEM tốt nghiệp đã tăng 78%, nhưng số nhà nghiên cứu mới nhận kinh phí NSFC chỉ tăng 32%.
Thành công của C9 hay đề án 985 không đồng nghĩa với thành công của toàn bộ nền giáo dục Trung Quốc. Bất bình đẳng giáo dục vẫn là bài toán hóc búa tại Trung Quốc: khoảng cách về khả năng tiếp cận giáo dục chất lượng cao giữa các thành phố phát triển với các vùng nông thôn và miền Tây hiện vẫn rất lớn.
Việc tốc độ tăng trưởng ngân sách công bị giới hạn đồng nghĩa với việc số lượng suất học tại các "trường top đầu" khó có thể gia tăng đáng kể trong ngắn hạn.
Nghĩa là hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc, dù có quy mô khổng lồ và một số đại học hàng đầu thế giới như C9, nhưng lại có mức độ phân hóa cực kỳ sâu sắc khi dưới 1% sinh viên có cơ hội học tập tại các cơ sở danh tiếng tầm cỡ quốc tế.
Sự khan hiếm này chính là nguồn cơn tạo nên áp lực thi cử khốc liệt trong kỳ thi đại học (gaokao) để vào được C9.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận