
Đại biểu Phạm Trọng Nhân (TP.HCM) - Ảnh: QUANG PHÚC
Chiều 20-4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
Lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng thiếu vắng vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân
Đại biểu Phạm Trọng Nhân (TP.HCM) cho hay theo báo cáo của Chính phủ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2025 đạt 8,02%.
Đóng góp vào kết quả này không chỉ từ kinh tế nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mà còn đến từ sự bền bỉ của kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên phía sau những con số tăng trưởng đó, số lượng doanh nghiệp rời khỏi thị trường vẫn ở mức cao.
Và dù đóng góp hơn một nửa GDP, khu vực này chỉ chiếm khoảng 30% xuất khẩu, số còn lại thuộc về FDI.
"Chênh lệch đó phản ánh thực tế kinh tế tư nhân vẫn chủ yếu hoạt động ở thị trường nội địa, gia công hoặc các phân khúc giá trị thấp. Trong khi những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vắng vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân", ông Nhân nói.
Theo đại biểu, Nghị quyết 198 của Quốc hội là một nỗ lực quan trọng nhằm lấp các khoảng trống của các quy định hiện hành. Tuy nhiên các ưu đãi lãi suất chủ yếu gắn với điều kiện dự án xanh, tiêu chuẩn ESG, tức là hỗ trợ có điều kiện, chứ chưa phải là quyền được bảo vệ một cách thực chất.
Dù đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện chính sách, nhưng cách tiếp cận vẫn thiên về hỗ trợ, trong khi điều doanh nghiệp cần không phải là hỗ trợ, bởi còn tư duy hỗ trợ thì khó xóa rào cản xin - cho.
"Điều họ cần là một khung pháp lý vững chắc, ổn định, bình đẳng và có thể thi hành để họ có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đặc biệt trong những lĩnh vực mà nền kinh tế đang rất cần như hạ tầng, năng lượng và công nghệ cao", ông Nhân nói.
Không chậm trễ trong xây dựng Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân
Đại biểu đoàn TP.HCM nhìn nhận Việt Nam đã hệ thống các nghị quyết, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng các luật này chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể.
Điều còn thiếu là một nguyên tắc xuyên suốt, có tính nền tảng, bảo đảm quyền và tạo lập niềm tin cho khu vực kinh tế tư nhân trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
"Từ việc xác định động lực quan trọng đến động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là một bước nhảy lớn trong quan điểm, tư duy, nhưng rất tiếc từ trước đến nay, trên bàn nghị sự của Quốc hội chưa có một báo cáo thường niên chuyên đề về tình hình thực thi các quyền của kinh tế tư nhân", ông Nhân nói.
Theo đại biểu, tại Hội nghị Trung ương ban hành Nghị quyết 68, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ đạo phải kiến tạo hệ sinh thái công bằng.
Cùng với đó, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân bứt phá, hình thành các tập đoàn tư nhân đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và các lĩnh vực chiến lược, đặt mục tiêu kinh tế tư nhân đóng góp 70% GDP vào năm 2030.
Thủ tướng cũng cam kết tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Tuy nhiên từ Nghị quyết 68 đến nay, Quốc hội mới chỉ ban hành thêm Nghị quyết 198.
Theo tinh thần Kết luận 17 của Bộ Chính trị, yêu cầu hoàn thành việc thể chế hóa ngay trong năm 2026 các nghị quyết chiến lược, trụ cột của Trung ương và Bộ Chính trị, mà Nghị quyết 68 là một trong số đó.
Từ đó, ông Nhân kiến nghị Quốc hội đưa vào chương trình lập pháp một đạo luật khung có tính nền tảng, Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân, và không thể chậm trễ hơn nữa.
"Đây không phải là một đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh cụ thể, cũng không tạo thêm cơ chế ưu đãi riêng lẻ, mà là xác lập các nguyên tắc nền tảng về bảo vệ quyền, bảo đảm sự ổn định và tính dự báo của môi trường pháp lý, làm cơ sở để các luật chuyên ngành tham chiếu và thực thi thống nhất", ông Nhân nói.
3 trụ cột lớn của Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân
Đại biểu Phạm Trọng Nhân kiến nghị Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân cần tập trung vào ba trụ cột lớn.
Thứ nhất, luật hóa nguyên tắc bình đẳng thực chất và nhất quán giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển từ đất đai, tín dụng, đầu tư và thị trường.
Thứ hai, xác lập vùng an toàn pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ quyền tài sản dài hạn theo hướng người thực hiện đúng quy định pháp luật tại thời điểm quyết định thì được bảo vệ, hạn chế tối đa rủi ro phát sinh từ thay đổi chính sách hoặc cách hiểu khác nhau trong quá trình thực thi.
Thứ ba, thiết lập cơ chế giám sát thông qua báo cáo thường niên của Chính phủ trước Quốc hội về thực thi các quyền của khu vực kinh tế tư nhân, để đánh giá một cách toàn diện môi trường phát triển cho khu vực này.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận