Sau khi cha, mẹ qua đời, anh em trong gia đình tôi bắt đầu bàn chuyện phân chia thửa đất do cha, mẹ để lại. Anh tôi cho rằng em gái đã lấy chồng, chuyển về sinh sống tại nhà chồng thì không còn quyền hưởng phần đất của gia đình.
Tôi không đồng ý vì tôi cũng là con ruột và chưa từng từ bỏ quyền lợi đối với tài sản của cha mẹ. Tuy nhiên, anh tôi vẫn khẳng định con gái lấy chồng thì phải theo nhà chồng, không thể về đòi chia đất của cha mẹ.
Luật sư cho tôi hỏi liệu con gái đã đi lấy chồng có còn được quyền chia đất của hộ gia đình hay không? Anh chị em chúng tôi đều đã thành niên, ai cũng đã có công việc làm ổn định.
Bạn đọc Huỳnh Như hỏi.
Luật sư Trần Thị Mỹ Tín (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời:

Luật sư Trần Thị Mỹ Tín - Đoàn luật sư TP.HCM
Pháp luật Việt Nam hiện không có quy định nào tước bỏ quyền thừa kế của con gái chỉ vì người đó đã kết hôn.
Như vậy, bạn dù đã lập gia đình vẫn có đầy đủ quyền hưởng di sản thừa kế từ cha, mẹ đẻ ngang bằng với các anh chị em khác nếu đáp ứng đủ các điều kiện luật định.
Do đó, người anh không thể dựa vào quan niệm truyền thống hay lý do bạn đã đi lấy chồng để đơn phương loại bỏ quyền thừa kế.
Theo câu hỏi của bạn thì thửa đất nhà bạn được cấp cho "Hộ gia đình" (đứng tên hộ gia đình chứ không phải tài sản riêng hay tài sản chung của riêng cha mẹ). Do đó, bản chất pháp lý của loại đất này sẽ khác.
Đây không hoàn toàn là di sản thừa kế của riêng cha, mẹ bạn để mang ra chia ngay mà chỉ phần quyền của cha, mẹ trong khối tài sản chung của hộ gia đình mới được tính là di sản thừa kế để chia.
Tuy nhiên, để bạn có góc nhìn đầy đủ nhất và dễ đối chiếu, luật sư sẽ hướng dẫn chi tiết quy định pháp luật cho cả hai trường hợp: đất cấp cho hộ gia đình và đất là tài sản chung của riêng cha, mẹ bạn.
Trường hợp 1: Đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình (cha, mẹ và các con).
Về bản chất, tất cả các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình tại thời điểm được Nhà nước cấp đất cho hộ gia đình đều là đồng chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó.
Vì vậy, khi cha, mẹ bạn qua đời, chỉ phần quyền sử dụng đất thuộc về cha, mẹ mới được xác định là di sản thừa kế (theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Phần quyền sử dụng đất của bạn và những thành viên khác vẫn thuộc quyền của họ và không trở thành di sản thừa kế.
Điều này có nghĩa bạn đương nhiên được hưởng một phần tài sản nếu có tên trong hộ khẩu tại thời điểm đất được cấp cho hộ gia đình.
Ngoài ra sẽ được hưởng thêm phần thừa kế theo luật định đối với phần của cha mẹ trong khối tài sản chung là đất cấp cho hộ gia đình nêu trên.
Cụ thể phần di sản bạn được hưởng sẽ xác định như sau:
- Nếu cha, mẹ mất không để lại di chúc: Di sản thừa kế sẽ chia theo pháp luật.
Do đó, bạn dù đã lấy chồng vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất và hoàn toàn có quyền hưởng phần di sản ngang bằng với những người con khác trong gia đình.
- Nếu cha, mẹ mất có để lại di chúc:
Trường hợp của bạn mọi người đều đã thành niên và có công việc làm ổn định nên sẽ chia theo đúng ý nguyện của cha, mẹ (nếu di chúc hợp pháp).
Thông tin thêm với bạn, nếu bạn đã tách khẩu, cắt khẩu hay chuyển hộ khẩu sang nơi khác trước hay sau thời điểm Nhà nước cấp đất cho hộ gia đình chỉ là căn cứ xác định bạn có quyền sở hữu đối với tài sản chung của hộ gia đình hay không, nhưng hoàn toàn không làm thay đổi quan hệ huyết thống với người để lại di sản.
Do đó, bạn vẫn có đầy đủ quyền hưởng di sản đối với phần di sản do cha, mẹ để lại, trừ trường hợp bị truất quyền hưởng di sản hoặc thuộc diện không được hưởng di sản theo quy định.
Trường hợp 2: Quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của riêng cha, mẹ.
Đối với trường hợp quyền sử dụng đất thuộc về riêng cha, mẹ bạn tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì di sản thừa kế là toàn bộ thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của riêng cha, mẹ bạn.
Việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật được xác định theo các quy định tương ứng tại Bộ luật Dân sự năm 2015, tương tự như trường hợp 1.
Con gái cắt khẩu đi lấy chồng trước thời điểm cấp sổ đỏ không được chia tài sản đất chung
Đây là nội dung được nêu tại Bản án số 239/2026/DS-PT ngày 26-8-2026 của Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng.
Theo đó, thửa đất có diện tích 1.498,2m² được UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27-4-2023 cho "hộ bà Phạm Thị H1".
Nguyên đơn (con gái bà H1) khởi kiện em trai là bị đơn đòi chia 1/2 diện tích đất với lý do đất là tài sản chung của hộ gia đình. Bị đơn không đồng ý. Cấp sơ thẩm bác đơn kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn kháng cáo.
Ở phiên phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên đơn đã đi lấy chồng và cắt hộ khẩu không còn sinh sống chung cùng bà H1. Công an xã xác nhận tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho "hộ bà Phạm Thị H1", nguyên đơn không có tên trong nhân khẩu hộ gia đình.
Nhân khẩu hộ bà H1 tại thời điểm giao đất/cấp sổ đỏ chỉ gồm bà H1 và bị đơn. Do nguyên đơn không phải là thành viên hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sử dụng đất nên không có quyền đòi chia tài sản chung của hộ. Tòa bác đơn kháng cáo của nguyên đơn.
Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn

Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY
Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ tuvanphapluat@tuoitre.com.vn.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận