Phóng to |
|
Phái đoàn Chính phủ VN dự Hội nghị Fontainebleau (người thứ hai từ trái sang là tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên) |
Không phải đến lúc đó tôi mới nghe mấy tiếng độc lập, tự do. Nhưng chỉ từ giây phút đó, và qua cuộc kháng chiến trường kỳ, tôi mới thấm thía ý nghĩa sâu xa của mấy tiếng ấy”.
Cách mạng Tháng Tám và “nhóm những người đánh điện”
Trước đó mươi hôm, chiều 22-8-1945, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đã cùng ba nhà trí thức nổi tiếng khác ở Hà Nội là Nguyễn Xiển, Ngụy Như Kontum và Hồ Hữu Tường đứng tên dưới một bức điện gửi hoàng đế Bảo Đại nêu rõ: “Một Chính phủ nhân dân lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là Cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập của nước nhà”.
Trên báo Cứu Quốc, cơ quan của Việt Minh, do ông Xuân Thủy làm chủ nhiệm, số ra ngày 27-8-1945, có đăng nguyên văn bức điện nói trên. Vì sao có bức điện ấy? Giáo sư Nguyễn Xiển kể: “Chiều 22-8-1945, sau cuộc khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, sinh viên và thanh niên, học sinh tổ chức mittinh tại Đông Dương học xá (nay nằm trong khuôn viên Trường đại học Bách khoa Hà Nội) có mời nhiều nhà trí thức trong đó có các anh Nguyễn Văn Huyên, Ngụy Như Kontum, Hồ Hữu Tường và tôi đến phát biểu ý kiến. Chúng tôi đều đồng thanh ủng hộ Việt Minh”.
Ngay sau đó, bốn ông gửi bức điện cho Bảo Đại. Về sau, một nhà sử học Pháp khi viết về Cách mạng Tháng Tám đã gọi nhóm bốn người này là “nhóm những người đánh điện”.
Trong khi đó, tại Huế, các ông Vũ Văn Hiền, Phan Anh và Hoàng Xuân Hãn cũng đã nhận lời mấy người bạn Việt Minh vận động được đa số thành viên trong chính phủ Trần Trọng Kim từ chức, rồi khuyên vua Bảo Đại nên thoái vị kịp thời.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp mời tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên giữ chức tổng giám đốc Vụ Đại học - Bộ Quốc gia giáo dục kiêm giám đốc Viện Bác cổ; giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng Trường đại học Y - dược, giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy, tổng thanh tra y tế; bác sĩ Tôn Thất Tùng làm giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn.
Thượng lệnh của năm 1945
Sáng 15-11-1945, tại Hà Nội, diễn ra lễ khai giảng Trường đại học VN gồm năm ban: y khoa, khoa học, văn khoa, chính trị - xã hội và mỹ thuật. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị trong Chính phủ đến dự. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, tổng giám đốc Vụ Đại học, đọc một bài diễn văn dài (nguyên văn tiếng Việt thời ấy), trong đó có đoạn nêu rõ:
“Buổi lễ hôm nay anh em giáo sư và sinh viên chúng tôi muốn là một dịp để tỏ cho thế giới biết trong giờ phút nghiêm trọng này của tiền đồ Tổ quốc, dân tộc VN ngoài công cuộc đấu tranh bằng xương máu trên chiến địa, còn nỗ lực tham gia vào công cuộc tiến triển văn hóa của nhân loại. Chúng tôi muốn rằng nền đại học mới này là một lực lượng mạnh trong những lực lượng chiến đấu của dân tộc VN.
Chúng tôi muốn nó là một thành lũy để trường kỳ kháng chiến phục hồi hoàn toàn lãnh thổ và giải phóng tinh thần cho dân tộc chúng tôi là một dân tộc văn hiến có ngoài nghìn năm lịch sử độc lập và tự xây đắp nên một nền văn minh đặc sắc trên ven biển Thái Bình Dương này (...). Dựa vào những lý thuyết bất công và giả dối, thực dân Pháp đã đi ngược đường với sự chiến đấu chung cho tự do của nhân loại. Sự xâm lăng ấy còn đang tiếp tục một cách mãnh liệt, nhưng chúng tôi nhận được thượng lệnh phải xây đắp ngay nền tảng Đại học Quốc gia”.
Bài diễn văn hôm ấy giáo sư Nguyễn Văn Huyên viết bằng bút chì, về sau bị thất lạc, nhưng hóa ra được lưu trữ tại Paris trong “hồ sơ Nguyễn Văn Huyên”! Gần đây, chị nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Ngọc mới tìm thấy và gửi về cho gia đình giáo sư Huyên một bản sao chụp.
Chẳng bao lâu sau, sáng 9-2-1946, tại Hà Nội, Bảo tàng Quốc gia mở triển lãm lịch sử - văn hóa dân tộc, do giám đốc Nguyễn Văn Huyên và các cán bộ Viện Bác cổ tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị trong Chính phủ đến dự. Lần đầu tiên dân chúng thủ đô được nhìn tận mắt nhiều tư liệu, hiện vật quí của nước mình mà trước đó chỉ mới nghe nói tới hoặc chỉ nhìn thấy qua mấy bức ảnh in trên tạp chí nghiên cứu khảo cổ.
Trong vận hội của Tổ quốc...
|
Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên có người chị ruột là Nguyễn Thị Mão. Bà Mão sinh năm 1903, là một trong những phụ nữ VN đầu tiên “theo đòi tân học”. Sau khi đỗ “tú tài Tây” tại Trường nữ trung học Félix Faure, Hà Nội (trường mang tên một vị tổng thống Pháp, dành riêng cho nữ sinh Pháp), bà vào học Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương khóa 1924-1927. Tốt nghiệp cao đẳng, bà Mão về dạy toán tại Trường nữ trung học Đồng Khánh (nay là Trường Trưng Vương), Hà Nội. Trong toàn cõi Đông Dương, vào những năm 1920, có lẽ bà là cô giáo toán trung học duy nhất. Lương bà rất cao, 120 đồng Đông Dương trong khi giá 1 tạ gạo chỉ vài ba đồng. Thế nhưng hằng tháng bà chỉ giữ lại 20 đồng cho mình, còn 100 đồng thì góp thêm cùng mẹ mua ngân phiếu bưu điện gửi sang Pháp giúp hai người em trai là Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Văn Hưởng đang du học tại đấy. Chính nhờ tấm lòng vàng của bà mà Nguyễn Văn Huyên mới có thể tốt nghiệp cử nhân luật khoa, cử nhân văn khoa, rồi bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne; còn Nguyễn Văn Hưởng mới đỗ cử nhân luật khoa. Về sau, bà Mão kết duyên với cụ Phan Kế Toại khi cụ tục huyền (lấy vợ kế). Trước Cách mạng Tháng Tám, cụ Toại giữ chức khâm sai đại thần, làm việc tại Bắc bộ phủ. Luật sư Nguyễn Văn Hưởng, em vợ cụ, làm đổng lý văn phòng phủ khâm sai. Đầu năm 1947, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ lên Việt Bắc tham gia Chính phủ kháng chiến... |
Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên còn được Chính phủ cử tham dự hai cuộc hội nghị lịch sử có quan hệ đến vận mệnh đất nước: Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau (Pháp). Những dòng thư riêng viết từ Paris gửi về Hà Nội cho người vợ trẻ Vi Kim Ngọc, ông nói lên nỗi lòng thành thực của mình:
“Huyên ra đi cũng thừa thấy là làm thiệt thòi cho vợ và các con nhiều. Song, như Ngọc nói, đây là dịp để Huyên thay mặt cho nhà ra đền nợ nước. Huyên cũng như bao anh em sinh trưởng ở một nước nô lệ, từ ngày hiểu biết tới nay đã hơn hai mươi năm thở vắn than dài, cố sức sửa mình để thoát khỏi vòng áp chế (...). Ngọc thấy đấy, Huyên không thiết gì ngoài tình thân mật trong gia đình, còn danh lợi thì dửng dưng, không ham muốn; có thì dùng chứ không bao giờ tự đi tìm kiếm (...).
Ngọc hiểu biết lắm nên Huyên mới nhảy ra gỡ mối tơ vò. Tương lai là ở chúng ta. Chúng ta phải cố. Xưa, cổ nhân tin năm trăm năm rồng mới hé miệng một lần! Tổ quốc ta không biết đến bao giờ mới lại có dịp như ngày hôm nay. Hai mươi năm đèn sách, một chục năm phiêu bạt chân trời góc biển, mới có dịp giơ thẳng cánh tay. Chúng ta dắt tay nhau mà cố lên vậy”.
Những ngày ở Paris, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên thường tiếp xúc với các trí thức Việt kiều nồng nhiệt hướng về cách mạng như Nguyễn Khắc Viện, Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Phạm Huy Thông, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Hy Hiền (tức Lê Tâm), Hoàng Xuân Nhị…
Ngày 19-8-1946, vẫn từ Paris, Nguyễn Văn Huyên viết thư cho vợ: “Ngày về không còn xa mấy nữa. Bước khó khăn còn nhiều nhưng ai nấy đều nỗ lực. Dẫu thành hay bại, phen này cũng đã trả nợ nam nhi đối với Tổ quốc, không thẹn lòng đối với gia đình. Chỉ biết bình tâm mà cố gắng (…). Còn công hay tội, vài chục năm sau lịch sử sẽ chỉ rõ (…). Ngồi không mà nói thì có gì dễ hơn! Riêng mình, mình biết sức mình, không ra mà gánh vác một phần là có tội”.
Tháng 11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp riêng tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, thuyết phục ông nhận chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục khi vận mệnh đất nước như “nghìn cân treo sợi tóc”. Theo Chủ tịch, ông là người “có đủ cả tài năng và đạo đức” để giữ trọng trách. Chắc chắn trong công việc ông sẽ gặp khó khăn, nhưng Chủ tịch và đoàn thể sẽ hết lòng giúp đỡ.
Thế là tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên giữ chức bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục suốt 29 năm, từ tháng 11-1946, cho đến khi ông qua đời vào tháng 10-1975.
Trong cuốn nhật ký của bà Vi Kim Ngọc có đoạn: “Đại diện cho những người cách mạng chân chính, các anh Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã mang lại niềm tin cho anh Huyên và tôi, cũng như cho những người thân yêu của chúng tôi là Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng”.
Chính ông Võ Nguyên Giáp là người đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên làm bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục.
-----------
* Kỳ cuối: Dắt díu con thơ, lên non theo chồng
------------------
Tin, bài liên quan:
- Kỳ 3: Chàng rể Tôn Thất Tùng- Kỳ 2: Chàng rể Hồ Đắc Di- Kỳ 1: Chàng rể Nguyễn Văn Huyên

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận