Sau đó, tài khoản của bạn tôi phát sinh nhiều giao dịch chuyển khoản với tổng số tiền khoảng 500 triệu đồng và một phần số tiền này nằm trong đường dây lừa đảo qua mạng.
Trong trường hợp này, tôi muốn hỏi bạn tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự về việc cho người khác mượn tài khoản ngân hàng hay không? Trong tình huống hiện tại, bạn tôi nên xử lý như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Luật sư Phan Nhi (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời:
Trong tình huống này, vấn đề quan trọng nhất là xác định người cho mượn tài khoản có biết và có cố ý hỗ trợ cho hành vi lừa đảo hay không.
Việc tài khoản ngân hàng được sử dụng để nhận hoặc chuyển tiền có nguồn gốc từ hành vi lừa đảo không đồng nghĩa với việc người đứng tên tài khoản đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Luật sư Phan Nhi - Đoàn luật sư TP.HCM
Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét người cho mượn tài khoản có biết mục đích sử dụng tài khoản; có tham gia nhận, chuyển, rút tiền; cung cấp mã OTP hoặc thông tin xác thực; có hưởng lợi; hoặc có hành vi nào khác hỗ trợ việc phạm tội hay không.
Nếu bạn của bạn không biết mục đích sử dụng, không biết nguồn tiền là tiền do phạm tội mà có, không tham gia vào các giao dịch và không hưởng lợi từ hoạt động phạm pháp, thì đây là những tình tiết quan trọng để xem xét liệu có đủ căn cứ xác định họ có lỗi cố ý và là đồng phạm hay không.
Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh người cho mượn tài khoản biết tài khoản được sử dụng để nhận, chuyển tiền từ hành vi lừa đảo nhưng vẫn cung cấp tài khoản, thông tin đăng nhập, mã xác thực hoặc hỗ trợ giao dịch, thì tùy vai trò cụ thể, người này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm đối với tội phạm tương ứng.
Cũng cần lưu ý rằng việc “không trực tiếp lừa đảo” chưa đủ để loại trừ trách nhiệm hình sự. Pháp luật còn xử lý người tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức.
Vì vậy, yếu tố quan trọng vẫn là nhận thức, ý chí và mức độ tham gia thực tế của người cho mượn tài khoản.
Về hướng xử lý, trong trường hợp này, người đứng tên tài khoản nên chấm dứt ngay việc để người khác tiếp tục sử dụng tài khoản, đổi mật khẩu và phương thức xác thực, đồng thời lưu giữ đầy đủ tin nhắn, lịch sử trao đổi, sao kê, lý do cho mượn tài khoản và các tài liệu thể hiện ai là người thực tế thực hiện giao dịch.
Khi làm việc với cơ quan điều tra, cần trình bày trung thực, nhất quán và dựa trên tài liệu có thể kiểm chứng.
Với trường hợp tài khoản đã xuất hiện trong dòng tiền của một vụ án lừa đảo và tổng giao dịch lên tới khoảng 500 triệu đồng, theo luật sư, nên có luật sư hỗ trợ từ sớm để rà soát chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
Ngoài ra, có thể bạn nên biết thêm, bản thân hành vi cho người khác mượn tài khoản thanh toán cũng có thể phát sinh trách nhiệm hành chính độc lập.
Cụ thể, theo điểm a khoản 5 Điều 30 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, hành vi cho mượn từ 1 đến dưới 10 tài khoản thanh toán, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng.
Trường hợp liên quan đến từ 10 tài khoản trở lên, theo khoản 6 Điều 30, mức phạt có thể từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng.
Tuy nhiên, việc bị xem xét xử phạt hành chính về hành vi cho mượn tài khoản không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên là đồng phạm trong vụ án lừa đảo. Đây là hai vấn đề pháp lý cần được xem xét độc lập.
Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn

Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY
Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ tuvanphapluat@tuoitre.com.vn.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận