29/08/2025 05:45 GMT+7

Chiến tranh, văn chương và khát vọng hòa bình

Có những cây bút sống và chiến đấu trong những năm tháng lửa đạn sục sôi nhất, có những tác giả ở thời bình lại say mê tìm kiếm và viết về các nhân chứng lịch sử.

hòa bình - Ảnh 1.

Nhà thơ Nguyễn Duy và tập Thơ Nguyễn Duy dày hơn 400 trang, tổng hợp nhiều bài thơ nổi tiếng về thân phận con người thời chiến tranh và hậu chiến - Ảnh: H.LAM

Là một gương mặt thi ca tiêu biểu thời chống Mỹ cứu nước, nhà thơ Nguyễn Duy đã sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng về tình đồng đội, thân phận con người trong chiến tranh và hậu chiến như Nhìn từ xa... Tổ quốc!, Ánh trăng, Đứng lại, Giọt nước mắt và nụ cười, Buổi sáng sau chiến tranh... 

Dịp 30-4, ông cũng vừa tổ chức chương trình đọc và diễn xướng thơ xuyên Việt nhân kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước.

Còn Phó chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM Trầm Hương là cây bút gắn liền với đề tài chiến tranh cách mạng và dòng tiểu thuyết tư liệu trong nền văn học Việt Nam đương đại với các tựa sách Đêm Sài Gòn không ngủ, Chuyện năm 1968, Đường 1C huyền thoại, Trong cơn lốc xoáy...

Nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, các tác giả chia sẻ với Tuổi Trẻ những suy nghĩ về văn chương, chiến tranh và hòa bình.

Khát vọng hòa hợp dân tộc

Năm 1965, chàng trai trẻ Nguyễn Duy là tiểu đội trưởng dân quân trực chiến ở khu vực cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) - một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ.

Năm 1966, trở thành lính thông tin của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc, Nguyễn Duy cùng đồng đội xây dựng và bảo vệ những đường dây liên lạc xuyên Trường Sơn, đảm bảo thông tin truyền tải từ Bộ Tổng tư lệnh đến mặt trận Khe Sanh - Tà Cơn.

Nguyễn Duy kể ông còn tham gia chiến đấu tại nhiều địa bàn lớn như chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), trận Thành cổ Quảng Trị (1972), chiến tranh biên giới Tây Nam (1978) và phía Bắc (1979) với các vai trò lính thông tin và phóng viên mặt trận.

Trong những năm tháng chiến đấu, Nguyễn Duy đã làm thơ và viết văn. Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ trong tập Cát trắng, trong đó có bài Tre Việt Nam đã vào sách giáo khoa lớp 4.

Viết thơ giữa thời chiến, Nguyễn Duy muốn hướng đến làng quê, khát vọng hòa bình và tình người: "Tôi nghĩ sinh ra trên đời không ai muốn ra chiến trường. Vì thời cuộc nên phải vậy. Điều giúp tôi đi qua chiến tranh chính là niềm tin vào hòa bình. Tôi tin đất nước sẽ có ngày thanh bình, dân mình không còn khổ đau. 

Tôi không muốn những vần thơ mình viết ra chỉ có máu xương; tôi mong ở đó còn có tiếng nói nhân bản, khát vọng sống và hòa hợp dân tộc. Tôi là nông dân sống giữa bom đạn nên chỉ mong cuộc chiến sớm khép lại để còn tiếp tục được cày ruộng, nhìn ngắm đất nước, Tre Việt Nam, Ánh trăng trong hòa bình".

Nhiều thế hệ học sinh cũng không quên bài Ánh trăng trong sách giáo khoa lớp 9 với lời nhắn nhủ về "vầng trăng tình nghĩa" mà như Nguyễn Duy tâm tình: "Đó chính là tình đồng đội, nó tồn tại bất diệt khi chiến tranh đã kết thúc. Vì trong lúc cùng khổ, họ đã thương nhau như tri kỷ, ruột thịt".

Những dư chấn thời hậu chiến

40 năm cầm bút, hiện tại nhà văn Trầm Hương vẫn luôn rung cảm và day dứt trước những trang viết về chiến tranh - cách mạng. Từng có thời gian công tác ở Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, bà có cơ hội được tiếp xúc với nhiều hiện vật và tư liệu lịch sử. Công việc của Trầm Hương là đọc tài liệu, thuyết minh cho đoàn khách xem, nghe.

"Một ngày bảo tàng vắng lạnh, nhìn vào những khung kính chật hẹp với vài dòng tiểu sử ngắn gọn về những người anh hùng liệt sĩ, tôi bỗng có mong muốn đi đến những vùng đất gắn liền với đời họ, chạm vào những tư liệu thật bởi đằng sau những cái tên và chiến công ấy, họ cũng có gia đình, tình yêu và khát vọng riêng", bà nói.

Khi viết sách, Trầm Hương còn hiểu hơn về những dư chấn thời hậu chiến mà các chiến sĩ ấy phải trải qua: "Những người bước ra khỏi cuộc chiến đa phần đều có cuộc sống khó khăn. 

Khi viết sách Đường 1C huyền thoại: những bờ vai con gái, tôi có cơ hội trò chuyện với nhiều nữ thanh niên xung phong. Nhiều chị mang trong mình chất độc da cam, khi sinh con ra cũng bị ảnh hưởng.

Rồi có những người thì bị lạc giấy tờ nên không được hưởng trợ cấp sau chiến tranh, lại không nhà cửa nên phải đi lượm ve chai để kiếm sống". Qua những trải nghiệm, Trầm Hương biết viết về chiến tranh là cách để bà trả những món nợ ân tình với những người đã làm nên lịch sử của đất nước và đó cũng là trách nhiệm của người cầm bút.

Văn chương trở thành điểm tựa cho họ hướng tới những giá trị đáng quý của hòa bình.

Nhiều "đất" cho đề tài chiến tranh

Chiến tranh, văn chương và khát vọng hòa bình - Ảnh 2.

Nhà văn Trầm Hương (bìa phải) gặp gỡ những nhân chứng lịch sử Tàu không số ở Quảng Ngãi - Ảnh: NVCC

Nhận xét về sức sống của đề tài chiến tranh trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, nhà văn Trầm Hương khẳng định:

"Đề tài chiến tranh vẫn luôn nóng hổi và tràn đầy sức sống, bởi nó gắn với con người. Trong chiến tranh là mất mát, đổ máu; sau chiến tranh lại là những cuộc đấu tranh khác - để xây dựng gia đình, giữ hạnh phúc, vượt qua dư chấn quá khứ. Tất cả đều liên hệ chặt chẽ với nhau.

Tôi nghĩ thế hệ nhà văn trẻ, với nguồn dữ liệu phong phú và nhiều điều kiện tiếp cận hơn, sẽ nhìn cuộc chiến với con mắt khách quan hơn. Vì vậy tôi tin rằng đề tài này sẽ còn được khai thác tiếp, với những góc nhìn mới mẻ".

Chiến tranh, văn chương và khát vọng hòa bình - Ảnh 3.Nếu hòa bình là một hạt giống, hãy đem nó gieo vào lòng trẻ thơ

Hòa bình không chỉ là những điều lớn lao mà những người nắm quyền lực, có vị thế cao mới thực hiện được. Với trung úy Nguyễn Sỹ Công, hòa bình còn là những điều rất nhỏ trong cuộc sống mà bất kỳ ai cũng có thể tạo ra bằng chính khả năng của mình.

Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất