
Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn và bà Hồ Thị Kim Thoa bị truy nã
Bộ luật Hình sự hiện hành quy định 15 tình tiết tăng nặng như phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; lợi dụng nghề nghiệp hoặc nghiệp vụ để phạm tội; lợi dụng tín nhiệm, tín ngưỡng để phạm tội; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người già yếu...
Trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng, người phạm tội sẽ chịu khung hình phạt nặng hơn so với thông thường.
Nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
Để phù hợp với thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm, Bộ Công an đề xuất bổ sung 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, gồm người phạm tội bỏ trốn và người phạm tội là thành viên của tổ chức tội phạm.
Việc này nhằm hoàn thiện căn cứ ra quyết định hình phạt, bảo đảm tính công bằng, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Theo lý giải của cơ quan soạn thảo, trường hợp người phạm tội sau khi thực hiện hành vi bỏ trốn gây nhiều khó khăn cho việc điều tra, do đó việc bổ sung là cần thiết.
Tương tự, cần bổ sung tình tiết người phạm tội là thành viên của tổ chức tội phạm để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, răn đe đối với tội phạm có tổ chức đang diễn ra rất phức tạp.
Bộ Công an cũng nêu rõ điều 52 Bộ luật Hình sự hiện hành hiện có quy định "phạm tội có tổ chức" và "có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm", nhưng chưa có tình tiết độc lập "bỏ trốn" hay "là thành viên của tổ chức tội phạm".
Vì vậy, bổ sung hai tình tiết này có thể tăng tính răn đe, phản ánh đầy đủ hơn mức độ nguy hiểm về nhân thân và mức độ cản trở hoạt động tố tụng.
Bộ Công an đánh giá, việc bổ sung hai tình tiết này sẽ hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xử lý nghiêm hơn với người có hành vi gây khó khăn cho điều tra, xét xử hoặc tham gia mạng lưới tội phạm bền vững...
Vì sao cần bổ sung 2 tình tiết?
Góp ý về nội dung này, Viện KSND tối cao đề nghị cân nhắc việc bổ sung "người phạm tội bỏ trốn" là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bởi tình tiết người phạm tội bỏ trốn không phải là động cơ, mục đích chính của việc phạm tội mà là yếu tố thuộc về bản chất, tâm lý của người phạm tội luôn muốn trốn tránh việc bị pháp luật xử lý.
Trách nhiệm bắt giữ, chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Hiện nay đã có các cơ chế xử lý đối với người phạm tội bỏ trốn như truy bắt, truy nã và áp dụng biện pháp tạm giam hoặc thực hiện cơ chế điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt... Trường hợp hành vi bỏ trốn đủ cấu thành để xử lý về một tội phạm độc lập sẽ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Bộ Tư pháp cho rằng khi thực hiện hành vi phạm tội thì bản năng vốn có của con người là trốn tránh sự trừng phạt của người khác, của pháp luật. Đây có thể là phản ứng tự nhiên đầu tiên khi người đó thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc quy định "bỏ trốn" là tình tiết tăng nặng chưa thực sự phù hợp.
Phản hồi lại, Bộ Công an cho rằng cần phân biệt giữa việc người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội với hành vi cố ý bỏ trốn nhằm trốn tránh việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.
Hành vi bỏ trốn không được coi là căn cứ chứng minh có tội, mà là yếu tố phản ánh thái độ chống đối, cản trở hoạt động tố tụng, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, tăng chi phí tố tụng, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, thu hồi tài sản, bảo vệ bị hại, người làm chứng và bảo đảm thi hành án.
Việc không quy định về hành vi "bỏ trốn" là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể dẫn đến một thói quen xấu trong hành xử pháp luật.
Theo Bộ Công an, các cơ chế truy bắt, truy nã, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt là biện pháp tố tụng, không thay thế cho căn cứ lượng hình khi quyết định hình phạt.
Thêm vào đó, không phải mọi hành vi bỏ trốn đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập như tội trốn khỏi nơi giam giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử. Do đó, Bộ Công an đề nghị giữ nguyên đề xuất.
Cần nghiên cứu kỹ
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Đặng Văn Cường, giảng viên luật hình sự (khoa luật và lý luận chính trị Trường đại học Thủy lợi), cho rằng nếu quy định "người phạm tội bỏ trốn" là tình tiết tăng nặng có thể khó áp dụng.
Bởi chưa có bản án kết luận có hiệu lực pháp luật của tòa án, rất khó để xác định họ là người phạm tội.
Trong một số trường hợp như phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi rõ ràng giết người, gây thương tích, cướp tài sản... sau khi thực hiện hành vi vi phạm, đối tượng bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan chức năng thì hành vi này mới cần xử lý với mức hình phạt nghiêm khắc.
Ông cho biết thông thường, tòa án sẽ áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn với các đối tượng cản trở điều tra, gây khó khăn cho cơ quan điều tra, phạm tội tinh vi, xảo quyệt...
Việc quyết định hình phạt căn cứ vào nhiều yếu tố chứ không chỉ căn cứ vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Việc đối tượng phạm tội bỏ trốn làm tăng tính chất nguy hiểm của hành vi, làm hậu quả trầm trọng hơn, thủ đoạn có thể được xác định là tinh vi, không thành khẩn, không có ý thức khắc phục hậu quả nên sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc.
Khi quyết định hình phạt, tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố quy định trong Bộ luật Hình sự mà không cần phải quy định thêm tình tiết tăng nặng trong trường hợp này.
Với tình tiết tăng nặng là người phạm tội là thành viên của tổ chức tội phạm, ông Cường cho rằng tình tiết này cần nghiên cứu thêm.
Bởi, tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định phổ biến trong Bộ luật Hình sự hiện nay là tình tiết định khung hình phạt, đồng thời cũng là tình tiết tăng nặng đã được quy định.
Đề xuất hết thời hiệu thi hành án tử hình có thể xuống chung thân
Bộ luật Hình sự hiện hành quy định thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án chung thân hoặc tử hình là 20 năm.
Theo Bộ Công an, quy định trên đang gây khó khăn trong một số trường hợp, vì luật chưa quy định về việc khi hết thời hiệu thi hành bản án tử hình thì người bị kết án có được chuyển xuống tù chung thân hay không.
Từ đó, tại dự thảo, Bộ Công an đề xuất sửa đổi quy định theo hướng nếu hết thời hiệu thi hành án đối với người bị kết án tử hình thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân để giải quyết vướng mắc trong thực tiễn thi hành án tử hình.
Về nội dung này, Văn phòng Chủ tịch nước cho rằng việc quy định hết thời hiệu thi hành án tử hình thì chuyển thành tù chung thân nhằm xử lý vướng mắc thực tiễn, nhưng chưa phù hợp với bản chất pháp lý của chế định thời hiệu.
Bởi thời hiệu là căn cứ chấm dứt quyền thi hành hình phạt của Nhà nước, không phải cơ chế chuyển đổi hình phạt. Từ đó, đề nghị cân nhắc nên xây dựng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Phản hồi lại, Bộ Công an khẳng định quy định trường hợp hết thời hiệu thi hành án tử hình thì chuyển thành tù chung thân là cần thiết, nhằm xử lý khoảng trống, vướng mắc thực tiễn trong thi hành bản án tử hình.
Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, thời hiệu thi hành bản án đối với trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình là 20 năm, ý kiến cho rằng thời hiệu là căn cứ chấm dứt quyền thi hành hình phạt của Nhà nước là có cơ sở về mặt lý luận chung.
Tuy nhiên, với hình phạt tử hình, cần có cơ chế đặc thù vì đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, liên quan trực tiếp đến quyền sống, đồng thời gắn với yêu cầu bảo đảm công lý, tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi của người bị hại, gia đình người bị hại.
Nếu hết thời hiệu mà người bị kết án tử hình đương nhiên không phải chấp hành bất kỳ hình phạt nào sẽ không phù hợp với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm và có thể tạo khoảng trống pháp lý trong thực tiễn.
Việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân trong trường hợp hết thời hiệu không nên hiểu là phủ nhận bản chất của chế định thời hiệu mà là quy định ngoại lệ, có tính nhân đạo và đặc thù đối với án tử hình.
Theo hướng này, Nhà nước không tiếp tục thi hành hình phạt tử hình sau khi đã hết thời hiệu, nhưng vẫn bảo đảm người bị kết án phải chịu trách nhiệm bằng hình phạt tù chung thân tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Bộ Công an chỉ rõ, Bộ luật Hình sự năm 1999 từng quy định cơ chế riêng đối với trường hợp tù chung thân hoặc tử hình.
Theo đó, sau 15 năm thì việc áp dụng thời hiệu do Chánh án TAND tối cao quyết định trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng Viện KSND tối cao, nếu không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù 30 năm.
Quy định này cho thấy chính sách hình sự Việt Nam đã từng thừa nhận cơ chế không thi hành tử hình sau một thời hạn nhất định nhưng chuyển sang hình phạt nhẹ hơn, chứ không tuyệt đối coi hết thời hiệu là miễn hoàn toàn mọi hậu quả hình phạt đối với án tử hình.
Do đó, chính sách tại dự thảo là có cơ sở cả về thực tiễn và lập pháp. So với việc khôi phục nguyên mẫu quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, phương án của dự thảo có ưu điểm là rõ ràng, trực tiếp, dễ áp dụng, hạn chế phát sinh thủ tục xin ý kiến, đề nghị, quyết định trong từng trường hợp cụ thể.
Quy định này cũng phù hợp với định hướng nhân đạo hóa chính sách hình sự, hạn chế thi hành án tử hình sau thời gian quá dài, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận