
Hầu hết đều tán đồng với nhận xét của TS Nguyễn Minh Hòa và cho rằng ở đây thấy rõ căn bệnh thành tích, tô hồng thực tế ở các con số thống kê.
Không tin nổi
Còn nhớ năm ngoái có đưa ra tỉ lệ công chức làm việc không hiệu quả là 1-2%, công luận đã phản đối mạnh mẽ. Bây giờ lại đến lượt Bộ Lao động - thương binh và xã hội đưa ra con số tỉ lệ thất nghiệp 1,84%. Tôi làm về lý thuyết xấp xỉ, khi xem con số 1,84% thấy buồn cười vì không tin nổi. Có lẽ chẳng cần nói gì thêm vì TS Nguyễn Minh Hòa đã nói đầy đủ ở bài viết của mình.
Con số giật mình
Bài viết của TS Hòa rất hay. Khi tôi nghe tin tỉ lệ thất nghiệp hiện nay chỉ 1,84% thì không khỏi giật mình. Tôi không hiểu những người làm thống kê để đưa ra kết quả đó từ đâu ra. Thực tế hiện nay thất nghiệp rất nhiều, đặc biệt là trình độ đại học, cao đẳng. Nhiều sinh viên tốt nghiệp bằng loại giỏi, tốt nghiệp hai bằng nhưng khi ra trường chẳng có việc làm. Nhu cầu lao động thì ít nhưng các trường đại học lại đào tạo tràn lan.
Thống kê “ảo”
Người ta cho rằng sinh viên tốt nghiệp đại học tìm được công việc đứng bán hàng, chạy chợ, rao bán mỹ phẩm, thậm chí có trường hợp thạc sĩ, tiến sĩ tìm được công việc hợp đồng tạm bợ đều là có việc làm “ổn định”. Bộ nào ngành nào mà chẳng cần thành tích? Nhưng nếu các con số thống kê của cơ quan nhà nước toàn con số ảo như vậy làm sao đánh giá được tình hình kinh tế? Không lẽ các vị lại thích cái ảo của nền kinh tế hay sao?
Bệnh thành tích
Lại thêm một kiểu bệnh thành tích. Nếu đúng Việt Nam có tỉ lệ thất nghiệp dưới 2% như báo cáo thì có lẽ không có sinh viên tốt nghiệp đại học đi bán vé số, đi học lại trung học để kiếm việc làm. Chắc các nước phát triển phải đến học cách làm tuyệt vời này của nước ta!
Tô hồng
Bài viết của TS Hòa thật sâu sắc. Đây là cách các nhà quản lý tô hồng bức tranh kinh tế - xã hội, đánh bóng thành tích quản lý của mình và ru ngủ dư luận, người dân.
Cần làm rõ cách tính
Tôi thấy sự mơ hồ về con số thống kê từ Bộ Lao động - thương binh và xã hội. Không thể chỉ lấy con số trên những người nộp thuế thu nhập cá nhân, có sổ bảo hiểm xã hội để tính tỉ lệ thất nghiệp, mà còn phải căn cứ trên những thông tin khác.
Ngoài ra, cần phải tính tỉ lệ thất nghiệp cổ điển (dạng thất nghiệp do tiền công thực tế trả cho người làm công việc đó cao hơn mức tiền công thực tế bình quân của thị trường lao động chung, khiến cho lượng cung về lao động đối với công việc này cao hơn lượng cầu) là bao nhiêu, tỉ lệ thất nghiệp tạm thời là bao nhiêu, tỉ lệ thất nghiệp ẩn (chưa có số liệu gom gộp đầy đủ) được theo dõi như thế nào?... Bởi vì hiện trạng người lao động mà thành phần là các sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được đúng việc, đúng ngành, hay người lao động có việc không đúng ngành rất đông.
Bộ Lao động - thương binh và xã hội căn cứ vào đâu, có số liệu thu thập như thế nào để minh chứng cho con số báo cáo nói trên? Đây là điều cần phải làm rõ cho các nhà hoạch định nhân sự, đào tạo và tuyển dụng biết đường mà tin vào.
Hãy sửa đổi
Bài viết rất sát thực. Mong các vị lãnh đạo, các bộ ban ngành có trách nhiệm đọc và nghiên cứu những phân tích trên của TS Nguyễn Minh Hòa để có sửa đổi phù hợp.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận