09/11/2009 10:42 GMT+7

Bài toán dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận - Kỳ 3: Chuyện từ phòng thí nghiệm Xô viết

THU HÀ
THU HÀ

TT - Câu chuyện về điện hạt nhân ở VN bắt đầu từ đầu những năm 1960, khi những tốp học sinh đầu tiên được chọn gửi đi Liên Xô học. Theo dự kiến, để xây dựng nhà máy điện hạt nhân với quy mô như phương án đang trình Quốc hội, cần ít nhất 3.000 nhân sự trình độ cao không phải theo nghĩa bằng cấp mà là những người đã qua đào tạo và có kinh nghiệm làm việc tại lò phản ứng hạt nhân.

Bài toán dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận - Kỳ 3: Chuyện từ phòng thí nghiệm Xô viết

TT - Câu chuyện về điện hạt nhân ở VN bắt đầu từ đầu những năm 1960, khi những tốp học sinh đầu tiên được chọn gửi đi Liên Xô học. Theo dự kiến, để xây dựng nhà máy điện hạt nhân với quy mô như phương án đang trình Quốc hội, cần ít nhất 3.000 nhân sự trình độ cao không phải theo nghĩa bằng cấp mà là những người đã qua đào tạo và có kinh nghiệm làm việc tại lò phản ứng hạt nhân.

ImageView.aspx?ThumbnailID=373833
Địa điểm dự kiến xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại thôn Vĩnh Trường, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, Ninh Thuận - Ảnh: Đức Tuyên

>> Kỳ 1: Lựa chọn công nghệ>> Kỳ 2: Phải đảm bảo an toàn>> Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận và thủy điện Lai Châu: Yếu tố an toàn trên hết

Những người đầu tiên

"Không ai có thể đào tạo được các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật về lò phản ứng chỉ qua sách vở lý thuyết và phòng thí nghiệm. Đào tạo con người về học thuật khác hoàn toàn với đào tạo nhân lực cho lò hạt nhân là đào tạo về công nghệ và quản lý công nghiệp"

Giáo sư Phạm Duy Hiển

Là một trong những nghiên cứu sinh đầu tiên của VN được chọn đi đào tạo về vật lý hạt nhân tại Liên Xô đầu những năm 1960, GS Phạm Duy Hiển, nguyên viện phó Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, người từng là điều phối viên của Tổ chức năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA) khu vực châu Á - Thái Bình Dương về ứng dụng năng lượng nguyên tử, khẳng định: “Nếu không có các phòng thí nghiệm Xô viết, không thể có nền tảng khoa học về hạt nhân của VN”.

Thời điểm đó Liên Xô là nước có nền khoa học tiên tiến vào loại nhất thế giới, đặc biệt là hai ngành năng lượng nguyên tử và du hành vũ trụ. Năm 1954, Liên Xô có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh Sputnik đầu tiên và năm 1961 Iuri Gagarin bay vào vũ trụ. VN lúc đó đã cử những sinh viên ưu tú nhất của mình theo học một ngành học mà bản thân những người đi học cũng như các giáo sư Liên Xô không hiểu học trò mình sẽ ứng dụng như thế nào khi về nước: vật lý hạt nhân.

Tất nhiên, con số được chọn cũng rất khiêm tốn: không đầy 10 người. Chuyên ngành hẹp lại càng ít hơn nữa: ngành hạt nhân học có mình ông Phạm Duy Hiển là nghiên cứu sinh; vật lý lý thuyết có một người, sau này cũng rất nổi tiếng là GS - viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu; nghiên cứu về hạt cơ bản có một người là GS - viện sĩ Nguyễn Đình Tứ (đã mất).

“Ngay đến tận bây giờ, sau 50 năm, ở VN vẫn không có những phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân tiên tiến và những người thầy trình độ cao như thời đó ở Liên Xô” - GS Hiển khẳng định.

Ông nhấn mạnh thêm: “Mãi mãi chúng ta không bao giờ có những người thầy như thế, bây giờ có thể “nhập nguyên” những phòng thí nghiệm hiện đại hơn nếu có tiền, nhưng không ai truyền dạy cho các nhà khoa học trẻ của chúng ta với một tinh thần như vậy”.

Lò phản ứng Đà Lạt - giấc mơ ngày khốn khó

Sáu năm sau khi lớp các nhà khoa học đầu tiên về nước, năm 1970 VN mới thành lập Viện Vật lý. Ông Phạm Duy Hiển được phân công làm trưởng phòng vật lý hạt nhân, đó là cơ sở khoa học đầu tiên của ngành hạt nhân ở VN, lực lượng cũng chẵn mười người, đều học ở Liên Xô về. Năm sau phòng được trang bị một máy gia tốc nhỏ. Năm 1975, VN mới chính thức có Viện Năng lượng nguyên tử.

Cũng năm 1975, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt do chính quyền Sài Gòn để lại được giao cho Viện Năng lượng nguyên tử tiếp quản.

Ông Phạm Duy Hiển nhớ lại: “Sau khi quân đội tiếp quản Viện Nguyên tử Đà Lạt không lâu, cuối 1975 chúng tôi vào nhận bàn giao. Chưa có quyết định chính thức, nhưng đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giao cho tôi phụ trách việc khôi phục lò phản ứng hạt nhân.

Hồi đó tuy không nói ra nhưng ai cũng nghĩ “VN nghèo thế mà quyết tâm làm lò hạt nhân thì chỉ để... chế tạo bom nguyên tử”(!). Không ai biết anh Văn (đại tướng Võ Nguyên Giáp), khi đó là phó thủ tướng phụ trách khoa học giáo dục, cấp trên trực tiếp của chúng tôi, chưa một lần nhắc đến từ “bom” trong tất cả các cuộc làm việc của mình. Ông nói rất ít, chỉ đủ cho chúng tôi hiểu là hòa bình rồi càng cần năng lượng hạt nhân để phục vụ phát triển kinh tế. Và trách nhiệm của chúng tôi là phải cho lò phản ứng hạt nhân đi vào hoạt động trong thời gian sớm nhất”.

Năm 1981, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp gọi ông Hiển lên chính thức giao nhiệm vụ làm viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Đà Lạt, quyết định được ký một thời gian ngắn sau đó (5-1981).

“Đó là thời kỳ khó khăn nhất của đất nước sau chiến tranh, các nhà khoa học “đói”, tôi đề nghị anh Văn xem xét cho cán bộ khoa học của Viện Năng lượng nguyên tử Đà Lạt (gồm cả các nhà khoa học của chế độ Sài Gòn) được hưởng những tiêu chuẩn đặc biệt (thật ra cũng chỉ là một chút ưu đãi về lương thực thực phẩm, nhưng thời buổi đó rất quý giá), anh Văn nghe rất chăm chú rồi nói sẽ tìm cách giải quyết. Ngay sau đó, tiêu chuẩn của các anh em ở Viện Năng lượng nguyên tử Đà Lạt được bổ sung”, ông Hiển nhớ lại.

Từ công suất cũ và đã bị người Mỹ tháo dỡ gần như sạch sẽ, chỉ còn lại vỏ nhà lò, lò Đà Lạt do các nhà khoa học VN vận hành đã tăng công suất lên gấp đôi và hoàn thành nhiệm vụ là nghiên cứu và điều chế chất phóng xạ cung cấp cho các bệnh viện, phòng thí nghiệm và kiểm dịch y tế.

Điện hạt nhân bắt đầu từ lò phản ứng

Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt chỉ có công suất 500 kWe (trong khi công suất thiết kế của một lò trong hệ thống nhà máy điện hạt nhân sắp tới là 1.000 kWe) mà đã “ngốn” tới một đội ngũ tiến sĩ, kỹ sư, công nhân bậc cao thường xuyên hơn 200 người. Đây là đội ngũ mạnh nhất ở VN về điện hạt nhân cho đến lúc này, trong đó có hơn 10 người có trình độ tiến sĩ và đã làm việc ở nước ngoài hoặc với các chuyên gia nước ngoài khá lâu (đủ các trường phái: Nga, Đông Âu, Trung Âu, Pháp, Mỹ...).

Ý thức rất rõ về việc phải có đội ngũ và nâng chất lượng đội ngũ các nhà khoa học nghiên cứu năng lượng hạt nhân, đặc biệt là những người trực tiếp làm ở lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt để chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Viện NLNT Đà Lạt đã kiên trì và nhất quán trong việc đào tạo và tự đào tạo cán bộ kỹ thuật của mình: tất cả đều học và nghiên cứu qua công việc thực tiễn tại lò phản ứng.

“Điện hạt nhân quan trọng nhất là lò, mà lò phản ứng là một hoạt động cực kỳ đặc thù của ngành hạt nhân. Không ai có thể đào tạo được các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật về lò phản ứng chỉ qua sách vở lý thuyết và phòng thí nghiệm.

Đào tạo con người về học thuật khác hoàn toàn với đào tạo nhân lực cho lò hạt nhân là đào tạo về công nghệ và quản lý công nghiệp. Anh em ở Đà Lạt có một đặc điểm là bằng cấp không nhiều, học vị không cao, nhưng có kinh nghiệm trực tiếp vận hành và xử lý. Đó là một nguồn vốn cực kỳ quý giá mà bây giờ chúng ta không thể có được bằng cách “nhập ngoại”, GS Hiển kết luận.

THU HÀ

____________________

Trong lúc dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận còn đang bàn thảo ở các cấp thì tại thôn Vĩnh Trường và Thái An - nơi dự kiến xây hai nhà máy, bà con cũng đang có những băn khoăn riêng: chưa biết đi đâu, về đâu...

Kỳ tới: Trăn trở Vĩnh Trường - Thái An

THU HÀ
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất