Phóng to |
| Chín cô thuở đầu lập trạm người mất người còn. Nhưng trong ảnh này chín cô (trừ hai em nhỏ) cũng đều làm nhiệm vụ ở trạm. Các cô trong một lần thăm lăng Bác - Ảnh tư liệu các cô cung cấp |
Những người lính qua đây gọi là “trạm 9 cô”. Các cô làm nhiệm vụ giao liên, đón và dẫn đường cho những đơn vị bộ đội vượt Trường Sơn vào Nam những năm ác liệt. Cô Đoàn Thị Nhạn, quê xã Đức Thắng, huyện Mộ Đức, nguyên là thanh niên xung phong (TNXP), có mặt trong ngày đầu thành lập trạm, cho biết đơn vị thành lập vào tháng 1-1967.
Một thời hoa lửa
Sau khi được chọn từ một đơn vị TNXP Quảng Ngãi, chín cô gái đến địa điểm đặt trạm ngày hôm trước, hôm sau triển khai đào hầm dưới tán lá rừng già, chặt cây làm lán trại. Vừa làm “nhà” vừa làm nhiệm vụ: cứ có công văn hỏa tốc là bất kể ngày đêm khoác súng lên đường. Gặp giặc đánh luôn. Câu khẩu hiệu mà chị em nằm lòng ngày ấy là “ngày không giờ, tuần không thứ, tháng không tuần”.
Nhiệm vụ của họ ngoài giao công văn, chỉ thị đến chiến trường còn đón cán bộ chiến sĩ, thương binh và cả những tốp học sinh từ chiến trường miền Nam ra Bắc và ngược lại. Có những hôm các cô phải đón 800-900 bộ đội từ Bắc, ở chật cả khu rừng vậy mà vẫn lo chu tất. Ban đầu mấy anh bộ đội trẻ tưởng bở, dừng chân ở trạm cứ lơ là chuyện cảnh giác (vì địch có thể phát hiện) nhưng các cô rất nghiêm khiến sau đó ai qua trạm cũng kiêng dè.
Các cô sống ở trạm, lương thực, thực phẩm đều chuyển từ dưới xuôi lên. Lắm khi đứt đường lại đói quay đói quắt. Vậy là phải tự phát rẫy trồng lúa, tỉa bắp để có cái ăn. Cô Nhạn nhớ lại: “Những năm đó máy bay địch từ căn cứ Chu Lai, từ Quảng Ngãi luôn quần thảo bắn phá đêm ngày dọc đường dây giao liên và rải chất độc hóa học nên cây rừng xác xơ. Rồi biệt kích, thám báo liên tục lùng sục. Cô Nguyễn Thị Can quê ở Phổ Vinh bị phục kích hi sinh mất xác khi mới làm trưởng trạm chừng ba tháng. Cô Lê Thị Đồng trong lúc vượt sông Xà Lò, chỉ nghe hai tiếng súng vọng về, đơn vị tỏa đi tìm nhưng không còn dấu vết. Nhiều chị em có khi đón khách bị sốt rét rừng phải cõng trên lưng và cõng luôn balô của khách ở phía trước, tay cầm súng vượt sông”.
Rồi địch cũng lần ra dấu vết của trạm, chị em lại phải di chuyển đi nơi khác. Tính từ năm 1967-1975, trạm phải dời đến sáu địa điểm thuộc các xã Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Tân (huyện Sơn Tây) và Sơn Thượng (huyện Sơn Hà). Gian khổ lắm, nhưng nghe tin tức từ các chiến trường dội về quân mình đang đánh lớn, chị em càng nôn nao mong đến ngày giải phóng quê hương.
Phóng to |
| Cô Lê Thị Bich Ngà, trạm trưởng đầu tiên và anh bộ đội Lê Trọng Oánh. Mối tình của họ bền sâu đến nay -Ảnh: V.Q.C. |
Những mối tình ở “trạm 9 cô”
Ngày đó có những cán bộ, thương binh đi qua thương mến chị em nhưng rồi chiến trường gọi ai cũng phải ra đi. Tình cảm chân thành và cảm xúc của các chàng chiến sĩ gói ghém trong những con chữ được chị em chuyền tay nhau đọc. Trong số đó có một mối tình đơm hoa.
Anh bộ đội quê ở xã An Ninh, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) Lê Trọng Oánh, chính trị viên đại đội phụ trách cả ba trạm T9, T10 và T11 đều thuộc địa bàn Quảng Ngãi thường ghé trạm để kiểm tra. Anh mến cô trưởng trạm Lê Thị Bích Ngà có suối tóc đen mượt dài chấm thắt lưng lại dũng cảm. Tháng 4-1974 họ được cấp trên cho cưới nhau.
Ở “trạm 9 cô” sau này có thêm một “cậu” là anh Nguyễn Văn Hiếu, quê huyện Bình Sơn, được cấp trên điều động về hỗ trợ các cô trong mùa mưa lũ vì sông suối ở đây rất dữ. Anh đem lòng thương mến cô Nguyễn Thị Thuyết sau một chuyến vượt sông đối diện với pháo bầy. Tháng 10-1972, trong một lần đưa cán bộ qua sông bị địch phát hiện, Hiếu đã hi sinh. Tuy vậy, một giọt máu của anh và chị còn kịp lưu dấu trên đời, đó là chị Nguyễn Thị Sương, hiện sống ở Phổ Vinh (Quảng Ngãi).
Đi qua chiến tranh
|
Thành tích Không phải chờ đến ngày toàn thắng mà năm 1968, “trạm 9 cô” đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhì và năm 1969 được Quân khu 5 trao cờ luân lưu trong toàn quân. |
Trên đường Quang Trung, TP Quảng Ngãi, nhà chị Nguyễn Thị Diệp nằm trong con hẻm nhỏ gần trụ sở hội phụ nữ tỉnh. Sau chiến tranh, chị xung phong vào Thuận Hải trồng bông theo tiểu đoàn 334, trung đoàn 27. Sau đó, chị về làm công tác Đoàn ở Trường ĐH Tây nguyên. Có cán bộ ở trường mến cũng tính chuyện cưới xin, nhưng nghĩ bản thân bị thương tật, bị nhiễm chất độc hóa học... nên chị chẳng muốn trở thành gánh nặng cho ai.
Sau đó, chị Diệp về làm cán bộ Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Ngãi, có anh thương binh vợ chết để lại bốn đứa con tỏ lời làm bạn. Chị cùng anh gom đồng lương hưu ít ỏi lo nuôi bốn đứa con của chồng. Rồi cưới vợ, gả chồng cho từng đứa... Còn trong ngôi nhà nhỏ ở phường Trần Phú, TP Quảng Ngãi, chị Lê Thị Bích Ngà, thương binh 2/4 và anh Lê Trọng Oánh, thương binh 1/4 cũng cố gắng dành dụm đồng tiền trợ cấp thương binh nuôi các con ăn học.
Cuộc sống của những người còn sống giờ đây vẫn còn khó khăn nhưng họ luôn cố gắng vượt qua. Và những ngày này họ lại kể cho con cháu nghe chuyện một thời hoa lửa và cả chuyện những rung cảm đầu đời ở “trạm 9 cô” xa lơ xa lắc...


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận