Phóng to |
| Người Sài Gòn đổ ra đường đón chào quân giải phóng chiều 30-4-1975 - Ảnh: TTXVN |
|
Hà Nội những ngày sau giải phóng cũng râm ran nhiều câu chuyện như thế về Sài Gòn. Người Sài Gòn bán trái cây một chục 12 trái. Người Sài Gòn mở cửa đãi phở, cà phê miễn phí cho bộ đội. Người Sài Gòn bán búp bê, giày xăngđan mua một tặng một... Những cô búp bê nhựa hồng hào mặc váy bông xòe với đôi mắt xanh long lanh và hàng mi dài chớp chớp trên balô các anh bộ đội làm quà ra Bắc đã trở thành quen thuộc ở miền Bắc, trở thành thông điệp “mới từ Sài Gòn về”, thông điệp của hòa bình, thống nhất, thông điệp rằng sẽ có một kho chuyện từ chiến trường, từ Sài Gòn và bao giờ cũng được kết bằng một câu thật dễ thương: “Người Sài Gòn là dzậy đó”. |
Dân Sài Gòn đổ ra đường, tập trung đông đặc dọc theo vòng xích của những chiếc xe tăng. Dân Sài Gòn chạy bộ, chạy xe đạp, xe máy theo xe tăng, xe tải chở quân, vói lên bắt tay bộ đội. Dân Sài Gòn chở nhau đến đứng ngập các công viên trước dinh Độc Lập để xem những người lính Bắc Việt.
Trên những gương mặt người trong đám đông có thể thấy rõ nét nỗi hân hoan, vui mừng, sự ngỡ ngàng, choáng váng, nhiều người bình thản, nhiều người đứng tư lự và có thể đoán được trên gương mặt rất nhiều người khác không xuất hiện trong ảnh sẽ có nét lo lắng, sợ hãi, hoang mang.
Bao nhiêu năm chiến tranh, dân Sài Gòn hình như đã quá quen với những cuộc chính biến, nhưng chỉ nhìn trong ảnh có thể đọc được rằng mọi người đều biết sự kiện ngày 30-4-1975 là sự kiện lớn nhất sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc đời họ.
“Và dù đã bị chính quyền Sài Gòn tuyên truyền rất nhiều về những cuộc tắm máu, trả thù của cộng sản, đa số người dân chúng tôi đã gặp, đã chụp ảnh đều rất vui và trông chờ một sự thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp” - nhà báo Thanh Hải, một trong những phóng viên chiến trường ngày ấy, kể. “Dân Sài Gòn là dzậy đó” - ông bắt chước giọng Sài Gòn và cười khà khà.
Bữa cơm “góp”
Ông Thanh Hải lăn lộn với chiếc máy ảnh trên các chiến trường miền Nam hơn bảy năm và chiều 30-4-1975 là lần đầu tiên ông được bước chân vào Sài Gòn. 27 tuổi, ống kính của Thanh Hải thích thú ghi lại cảnh những chiếc xe tăng đậu đầy trong khuôn viên dinh Độc Lập, những anh lính trẻ hồn nhiên tắm và nghịch nước ngay ở bồn phun nước giữa bãi cỏ trước sân, từng tốp lính treo hănggô trong vườn và nhặt cành khô nấu cơm theo thói quen đi rừng.
Đến tối, mấy sĩ quan lấy xe jeep chở Thanh Hải đi một vòng quanh đường phố. Khu trung tâm TP, các căn nhà, cửa hiệu đều đóng cửa, rất ít người dân ra đường. Dư âm của cuộc tháo chạy hoảng loạn và cuộc chuyển giao quá đột ngột vẫn đậm đặc ở đây, khu vực tập trung bộ máy đầu não chính quyền và quân sự. Xe rẽ vào đường Võ Di Nguy, một sĩ quan thạo đường giải thích cho mọi người biết đây là chợ Cũ. Có một căn nhà chưa đóng cửa, mấy người phụ nữ hình như đang dọn hàng. Anh tài xế vội phóng đến và mọi người trên xe đều vui mừng nhảy xuống.
“Mấy người trong nhà tỏ ra hốt hoảng, họ bỏ chạy vào nhà và định kéo cửa sắt đóng lại. Tôi vội đến giữ tay chị phụ nữ và nói: “Chị đừng sợ, chúng tôi là bộ đội. Bộ đội không làm hại dân”. Chị ấy có vẻ bình tĩnh hơn và hỏi: “Các chú cần gì hông?”. Tôi suy nghĩ và bỗng nghe bụng đói cồn cào, bữa gần nhất tôi ăn là chén cơm nguội tối qua ở Biên Hòa. Tôi bật ra một đề nghị: “Chị có thể nấu giúp chúng tôi một bữa cơm?...”.
Ông Thanh Hải hôm nay bật cười khi nhớ lại câu chuyện tối hôm ấy. Những người Sài Gòn đầu tiên mà ông gặp tối đó sau những phút lo lắng đã sốt sắng dọn bàn, kéo ghế, rót nước rồi xăng xái xuống bếp vo gạo, lục tủ lạnh, bắc bếp. Một lát, mấy căn nhà bên cạnh đã hé cửa, ngoài vỉa hè đã có mấy đứa trẻ rồi đến mấy bà, mấy chị lấp ló sang “xem mặt quân giải phóng”. Mấy cậu thanh niên đã vui vẻ đến bắt chuyện, hỏi han về những khẩu súng, chuyện đi bộ đội, chiến đấu, chính sách của chính quyền mới...
Những câu chuyện nổ giòn khi vài đĩa đồ nhắm được chủ nhà mang ra và mọi người bắt đầu yên tâm rằng quân giải phóng cũng bình thường chứ không phải “bảy người ôm cọng đu đủ không gãy” như họ đã được tuyên truyền về Việt cộng trước đó.
“Và mấy bà, mấy chị bỗng kéo nhau chạy về nhà. Loáng sau họ đã quay lại, người mang đĩa trứng chiên, người mang khứa cá kho tộ, người mang khúc lạp xưởng, miếng thịt heo luộc. Bữa cơm đột xuất của chúng tôi bỗng nhiên la liệt thức ăn. Ngon và nhớ mãi không chỉ vì là bữa đầu tiên được ăn nóng sốt, tử tế sau bao ngày lương khô, cơm vắt mà vì đó là bữa cơm “góp” của những người Sài Gòn đầu tiên tôi gặp” - giọng ông Hải vẫn còn nguyên sự xúc động sau 35 năm.
Hôm sau, niềm vui đến thật sự với người Sài Gòn sau những ngỡ ngàng đột ngột. Người người đổ ra đường với cờ, băngrôn, khẩu hiệu, những ánh mắt an tâm, những nụ cười vui sướng và ống kính của nhà báo Thanh Hải tha hồ ghi lại những cảm xúc ấy với những cú bấm máy đầy cảm mến với người Sài Gòn.
Rổ chanh ngày nắng
Khi làm chánh văn phòng ở Bộ tư lệnh Miền, tiếp nhận, tổng hợp hàng chục, hàng trăm báo cáo mỗi ngày của chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Hoàng Dũng đã nghe báo cáo về những người dân ngoại thành Sài Gòn dùng xe lam, xe máy và cả xe đạp để chở quân, giúp các binh đoàn chủ lực tiến nhanh vào nội thành. Giải phóng, tiếp quản, hàng núi công việc chất chồng khiến ông “không kịp thở, còn bận hơn khi còn chiến tranh”. Nhưng 35 năm qua ông vẫn còn nhớ về người Sài Gòn đầu tiên mà ông gặp giữa những ngày bộn bề ấy: một bà cụ bán chanh ven đường.
“Hôm ấy Sài Gòn cũng nắng nóng như những ngày hè năm nay. Tôi cùng mấy anh lính đi kiểm tra các điểm tiếp quản. Ngang qua khu Bà Quẹo, tôi bỗng thấy một bà cụ đội nón lá ngồi trên lề đường với một rổ chanh trước mặt. Tôi bảo tài xế ghé vào, cậu cần vụ xuống mua vài trái về vắt nước uống giải khát” - ông Hoàng Dũng kể tỉ mỉ từng chi tiết.
Nghe anh bộ đội lúng túng đưa ra tờ 100 đồng tiền Sài Gòn và hỏi giá chanh, bà cụ ngước mắt lên bảo: “Chú tìm cái gì để đựng”. Anh bộ đội loay hoay giở cái mũ cối xuống và bà bốc chanh bỏ vào. 10, 15, 20 quả, anh kêu lên: “Nhiều quá, cháu mua mấy quả uống nước thôi” nhưng bà cụ vẫn trút chanh đầy cả cái mũ cối. Anh đưa 100 đồng hỏi: “Ngần này có đủ không?”, bà lắc đầu cười: “Ủng hộ mấy chú bộ đội”.
Ông Đặng Văn Nghiêm kể suốt mấy năm công tác trong Ban liên hợp quân sự bốn bên, sống trong trại David ở Tân Sơn Nhất nhưng ông không hề được gặp người dân. Từ ngày 30-4-1975, chuyển sang ban quân quản ở dinh Độc Lập ông mới thấy người Sài Gòn ùn ùn kéo đến, í ới hỏi thăm bộ đội. Những bà má có con theo kháng chiến đến gặp ai cũng hỏi, có má đến kiếm “một thằng nhỏ hồi nọ bị lính rượt bắt có chạy vào nhà má trốn mấy ngày”. Có chị phụ nữ đến tìm cán bộ, chưa mở lời đã sa nước mắt. Thì ra chị có chồng đi lính Sài Gòn và đang hoang mang không biết số phận sẽ ra sao... Các cán bộ ban quân quản khan giọng trả lời, giải thích, bà con nghe rồi quay về mang bánh mì, bánh bao, nước ngọt trở lại tiếp tế...
Và vòng tay lớn đã được nối.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận