
PGS.TS Nguyễn Phú Hùng, Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ - Ảnh: KHẮC HIẾU
Đây là thông tin tại hội thảo khoa học quốc gia "Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045" do Đại học Quốc gia TP.HCM phối hợp cùng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 29-11.
Thị trường công nghệ sinh học 'khổng lồ'
PGS.TS Nguyễn Phú Hùng, Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho hay công nghệ sinh học đang bước vào giai đoạn phát triển có tính chiến lược, trở thành một trong những động lực quan trọng cho tăng trưởng.
Hiện nay nhiều công nghệ lõi như chỉnh sửa gene CRISPR/Cas9, công nghệ tế bào, DNA tái tổ hợp, vắc xin thế hệ mới… đã được các viện nghiên cứu trong nước làm chủ và từng bước ứng dụng vào sản xuất.
Đáng chú ý đến tháng 9-2025, đã có 217 nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ sinh học được phê duyệt với tổng kinh phí hơn 754 tỉ đồng.
Ở các lĩnh vực ứng dụng, nông nghiệp là khu vực có bước đột phá rõ nhất. Hơn 180 giống lúa và 53 loài dược liệu đã được xây dựng mã vạch DNA.
Các mô hình ứng dụng công nghệ sinh học đem lại mức tăng hiệu quả kinh tế 15-20%, thậm chí một số mô hình VietGAP và hữu cơ đạt lợi nhuận 80 - 300 triệu đồng/ha mỗi năm.

GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, phát biểu khai mạc hội thảo
Trong y tế, Việt Nam đã làm chủ công nghệ sản xuất 10 loại vắc xin, phát triển y học cá thể hóa, xét nghiệm PCR thời gian thực, công nghệ tế bào và ngân hàng sinh học phục vụ chẩn đoán điều trị.
Tuy nhiên PGS.TS Nguyễn Phú Hùng cũng chỉ ra đầu tư cho công nghệ sinh học vẫn thấp so với yêu cầu, thiết bị nghiên cứu chủ yếu nhập khẩu với giá thành cao.
Nhiều kết quả mới dừng ở phòng thí nghiệm, chưa thương mại hóa, nhân lực chất lượng cao còn thiếu và phân tán, trong khi cơ chế đặc thù chưa đủ mạnh để tạo đột phá cho doanh nghiệp.

GS.TS Henry Nguyễn
Xu hướng công nghệ sinh học liên ngành
GS.TS Henry Nguyễn, Giám đốc Trung tâm sinh học Mỹ, cho rằng các công nghệ như genomics và chỉnh sửa gene đang thay đổi cả y học lẫn nông nghiệp. Xu hướng hiện tại là tích hợp liên ngành mạnh mẽ giữa sinh học và công nghệ số.
Chẳng hạn điện tử, robot, UAV (drone), cảm biến và công nghệ hình ảnh đang tạo ra nền tảng nông nghiệp thông minh để phục vụ các mô hình "sinh học hệ thống" trong cải tiến cây trồng.
Ông cho rằng tương lai của công nghệ sinh học nằm ở sự kết nối giữa ba trụ cột: genomics (ngân hàng gene, multi-omics, chỉnh sửa gene), phenomics (đo kiểu hình bằng cảm biến, UAV), và enviromics (dữ liệu môi trường, khí hậu, thực phẩm). Tất cả được vận hành bởi trí tuệ nhân tạo (AI), robotics và công nghệ nano.
PGS.TS Soo Han Sen, Giám đốc chương trình MSCSI - Đại học Công nghệ Nanyang (NTU, Singapore), cho rằng công nghệ sinh học thế hệ mới sẽ phải thông qua các mô hình doanh nghiệp công nghệ.
Nhiều nhà khoa học của NTU cũng là doanh nhân, sáng lập start-up và chuyển giao công nghệ cho ngành y sinh, thực phẩm hay sức khỏe cộng đồng.
Từ mô hình này, ông nói muốn đẩy mạnh công nghệ sinh học cần xây dựng hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.
Nhân lực cần được đào tạo theo hướng liên ngành, kết hợp hóa học, vật liệu, nano, y sinh và AI. Bên cạnh đó, các phòng thí nghiệm doanh nghiệp trong trường đại học đóng vai trò quyết định để thúc đẩy thương mại hóa.

Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Huỳnh Thành Đạt
Gắn kết nghiên cứu với thị trường
Ông Huỳnh Thành Đạt, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nhấn mạnh giai đoạn 2026 - 2030, công nghệ sinh học cần hình thành đầy đủ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm, tổ chức thị trường đến đáp ứng chuẩn mực an toàn, đạo đức, môi trường.
Ông đề nghị tập trung phát triển một số công nghệ cốt lõi, qua đó tạo ra các sản phẩm công nghệ sinh học "Make in Vietnam" trong các lĩnh vực có tiềm năng lớn như y dược, nông nghiệp công nghệ cao, bảo vệ môi trường.
Song song với hoàn thiện cơ chế thử nghiệm, quản trị rủi ro, tạo không gian đổi mới sáng tạo an toàn cũng như đầu tư trọng tâm cho hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm đạt chuẩn.
"Sớm xây dựng danh mục ưu tiên các chương trình, sản phẩm cho giai đoạn 2026 - 2030, nêu rõ sản phẩm chủ lực, đơn vị chủ trì, doanh nghiệp đồng hành và lộ trình chuẩn hóa kiểm chứng", ông Đạt đề nghị.
Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành với mục tiêu, chỉ tiêu và người chịu trách nhiệm rõ ràng. Trong đó Đại học Quốc gia TP.HCM tiếp tục phát huy vai trò hạt nhân về đào tạo và nghiên cứu liên ngành.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận