Những hội làng từ hàng mấy trăm năm như Đồng Kỵ (hội pháo), hội Diềm (quan họ)... tiếp tục được mở nhưng không còn hoặc đã ít đi cảnh chính quyền xã huyện bao sân, làm thay từ kịch bản đến chủ tế, người dân trong họ ngoài làng đang dần quay lại với vai trò “chủ nhân ông” trong ngày hội lớn nhất năm của làng mình.
Thật ra, lễ hội vốn là của cộng đồng và bắt nguồn từ cộng đồng, “trả lại” cũng có nghĩa là thừa nhận đã có một thời những lễ hội khởi nguồn từ làng quê, từ thôn bản bị tuột khỏi tay những người sinh ra và nuôi dưỡng nó. Từ chủ thể sáng tạo và duy trì lễ hội, người dân đã không còn là chủ thể, đã bị gạt ra bên lề. Khi đó hệ quả tất yếu nảy sinh là lễ hội mất đi khát vọng cơ bản, mất đi bản sắc văn hóa, và chính vì thế sẽ có nguy cơ bị nhà nước hóa và chính trị hóa.
Chủ trương trả lễ hội về cho cộng đồng có nhu cầu nội tại xã hội của nó và về mặt khoa học, nó được đúc kết từ quan niệm của ngành nhân học: “Trao lại tiếng nói cho chủ thể văn hóa”. Vậy ai đã lấy đi tiếng nói của người dân - chủ thể sáng tạo văn hóa? Chính là Nhà nước và các nhà khoa học. Nhà nước sợ dân làm sai nên cứ làm thay dân, nhà khoa học tự cho mình là hiểu biết nên hay nói thay cho dân. Trong khi một chân lý giản dị mà không phải ai cũng hiểu là không có ai đủ tư cách nói về văn hóa hơn bản thân chủ thể văn hóa.
Nghiên cứu cách hành xử với văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng trong các chính quyền nhà nước phong kiến mới thấy vua coi trọng văn hóa làng như thế nào: Lễ hội đền Hùng tôn kính thiêng liêng là thế mà thời Nguyễn chỉ năm năm mới có một lễ chính, bốn năm còn lại Nhà nước giao cho cộng đồng - chủ yếu là các làng xã quanh núi Ngũ Lĩnh, những người trông nom hương hỏa tổ tiên - hành lễ. Dân các làng toàn quyền cử hành nghi lễ cúng tổ tiên đúng với phong tục và tâm tính của người làng mình. Một chi tiết nhỏ nhưng cảm động là làng làm giỗ nhưng năm nào vua cũng gửi ba đấu gạo nếp thơm “góp giỗ” - vua thì cũng như một người con ở xa.
Trong hồ sơ trình UNESCO để công nhận di sản thế giới cho tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng, câu hỏi lớn nhất mà các nhà khoa học thế giới hỏi đi hỏi lại là “mỗi người dân bình thường có được quyền đến để thực hiện nghi lễ thờ cúng tổ tiên hay không?”. Và chỉ câu trả lời chắc chắn “có” mới đảm bảo việc di sản được công nhận.
Mùa lễ hội mới lại đang đến. Khi các cơ quan quản lý văn hóa đã xác định được quy luật phát triển tất yếu của xã hội là trả lại lễ hội cho cộng đồng, thiết tưởng cũng không nên lo lắng thái quá về những biến tướng lệch lạc của lễ hội một khi để người dân “tự biên tự diễn”. Những mê tín dị đoan, rải tiền như bươm bướm, chen lấn xô đẩy, cướp lộc cướp ấn, xả rác bẻ cây... không hoàn toàn do lễ hội mà phát sinh. Nó ở trong tâm thức hằng ngày của mỗi con người, nó cần sự giáo dục tri thức và ý thức bền bỉ qua nhiều thế hệ. Và đấy chính là nơi mà Nhà nước khẳng định vị thế và nhà khoa học phát huy vai trò của mình. Nhà nước - thông qua cơ quan chức năng - quy hoạch đường sá, mặt bằng, cơ sở vật chất, đảm bảo an ninh phục vụ lễ hội. Nhà khoa học kiên trì và hướng tới cộng đồng, thông qua các phương tiện truyền thông, truyền bá những tri thức cần và đủ cho người hành lễ.
Chỉ có như vậy xã hội mới có những mùa lễ hội bình an và thật sự của dân.
THU HÀ ghi
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận