Thứ 3, ngày 13 tháng 4 năm 2021

Tiễn biệt thi sĩ "Lá Diêu Bông" về "Bên kia sông Đuống"

06/05/2010 15:25 GMT+7

TTO - Hoàng Cầm, nhà thơ của Lá Diêu Bông, Bên kia sông Đuống, Mưa Thuận Thành, của kịch Kiều Loan và Hận Nam Quan đã qua đời sáng nay 6-5-2010, thọ 88 tuổi.

Thi sĩ Hoàng Cầm - "Hoàng tử lãng du"Nhà thơ Hoàng Cầm: Dù thế nào, vẫn làm việc

Bc4NS7tu.jpgPhóng to
Nhà thơ Hoàng Cầm - Ảnh: Tư liệu

Các tác phẩm chính của Hoàng Cầm

Hận ngày xanh (phóng tác theo Lamartine 1940)Thoi mộng (truyện vừa, 1941) Kiều Loan (kịch thơ, 1945) Men đá vàng (truyện thơ, 1989) Bên kia sông Đuống (tập thơ chọn lọc, 1993) Lá diêu bông (tập thơ chọn lọc, 1993) Về Kinh Bắc (tập thơ, 1994)99 tình khúc (tập thơ tình, 1955)

Được biết đến như một nhà thơ của Kinh Bắc, tên khai sinh của Hoàng Cầm - Bùi Tằng Việt cũng là tên ghép của 2 địa danh Phúc Tằng và Việt Yên (Bắc Giang). Ông sinh ngày 22-2-1922 tại Thuận Thành - Bắc Ninh, học tú tài tại Hà Nội và bắt đầu tham gia văn đàn vào năm 1940 bằng những tác phẩm dịch từ tiếng Pháp cho Tân Dân xã của Vũ Đình Long.

Vở kịch thơ nổi tiếng đầu tiên của ông Hận Nam Quan cũng ra đời trong khoảng thời gian này (1942). Năm 1945, ông thành lập kịch Đông Phương và đi lưu diễn nhiều nơi trên đất Bắc.

Vở kịch thơ Kiều Loan của ông cũng ra đời trong thời kỳ này, nhưng chỉ diễn được có một đêm thì phải ngừng lại do tình hình chiến sự căng thẳng trước ngày Toàn quốc kháng chiến, ông lên chiến khu và tham gia thành lập đoàn Văn công quân đội năm 1947. Trong suốt kháng chiến, ông nổi tiếng với vai trò một trưởng đoàn văn công, đi biểu diễn phục vụ chiến ssĩ khắp các chiến trường phía Bắc.

Từ 1958 đến khoảng 1995 ông chuyên tâm làm thơ và những tập thơ hay nhất của ông ra đời trong giai đoạn này: Men đá vàng, Bên kia sông Đuống, Về Kinh Bắc, Lá Diêu bông

Thơ ông hấp dẫn các thế hệ người đọc khác nhau, vì ngoài những tìm tòi cách tân về nghệ thuật, Hoàng Cầm vẫn gìn giữ cho riêng mình một vốn ngôn ngữ và hình ảnh đặc trưng Kinh Bắc, độc đáo, tài hoa. Có những câu thơ của ông, dù không phải thơ tình, vẫn làm say đắm bao nhiêu trái tim người Việt.

Từ khoảng 1993, thơ ông được in nhiều và liên tục được tái bản do nhu cầu tìm đọc của công chúng. Năm 2007, ông nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Lá diêu bông

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng Chị thẩn thơ đi tìm Đồng chiềuCuống rạ

Chị bảo Đứa nào tìm được Lá Diêu bông Từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày Em tìm thấy Lá Chị chau mày Đâu phải Lá Diêu bông

Mùa đông sau Em tìm thấy Lá Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông

Ngày cưới Chị Em tìm thấy Lá Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

Chị ba con Em tìm thấy Lá Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

Từ thuở ấy Em cầm chiếc Lá đi đầu non cuối bể Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời... ...ới Diêu bông...!

..................................................................

sV4lM9HA.jpgPhóng to

Cây tam cúc

Cỗ bài tam cúc mép cong congRút trộm rơm nhà đi trải ổ Chị gọi đôi cây trầu cay má đỏ kết xe hồng đưa Chị đến quê Em

Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm Em đừng lớn nữa Chị đừng đi Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì

Đứa được chinh chuyền xủng xoẻng Đứa thua đáo gỡ ngoài thềm Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em

Năm sau giặc giã Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi

Em đứng nhìn theo Em gọi đôi

...................................................................

Bên kia sông Đuống

Em ơi! Buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lì Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp loáng Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu ?

Ai về bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi Đi bán lụa mầu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê Cầu Bây giờ đi đâu? Về đâu?

Bên kia sông Đuống Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo Xì xồ cướp bóc Tan phiên chợ nghèo Lá đa lác đác trước lều Vài ba vết máu loang chiều mùa đông

Chưa bán được một đồng Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong Bước cao thấp trên bờ tre hun hút Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu? Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ

Bên kia sông Đuống Ta có đàn con thơ Ngày tranh nhau một bát cháo ngô Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn Lấy mẹt quây tròn Tưởng làm tổ ấm Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm Ú ớ cơn mê Thon thót giật mình Bóng giặc dày vò những nét môi xinh...

(Trích Bên kia sông Đuống)

THU HÀ
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận