
Quang cảnh kỳ họp thứ 5 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương - Ảnh: UBKT Trung ương
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Quy định 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Bổ sung quyền hạn của Ủy ban Kiểm tra các cấp
Quy định mới bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp.
Cụ thể, khi cần bổ sung ủy viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm còn thiếu so với đề án nhân sự được phê duyệt, ban thường vụ cấp ủy thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự và báo cáo ban thường vụ cấp ủy cấp trên để xem xét, quyết định (không phải xin chủ trương).
Khi thay đổi chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải trao đổi với ủy ban kiểm tra cấp trên để báo cáo ban thường vụ cấp ủy xem xét, quyết định, trước khi giới thiệu để bầu bổ sung chủ nhiệm.
Cùng với đó, được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát.
Việc truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp ghi âm, ghi hình, niêm phong hồ sơ, tài liệu, yêu cầu cơ quan chức năng phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.
Về biện pháp mới áp dụng như ghi âm, ghi hình sẽ được quy định chi tiết trong hướng dẫn của Ban Bí thư thực hiện quy định.
Theo quy định, Ủy ban Kiểm tra Trung ương có 23 - 25 ủy viên (trong đó 2 - 3 ủy viên kiêm nhiệm), trong đó không quá 1/3 là Ủy viên Trung ương Đảng.
Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm Chủ nhiệm và các Phó chủ nhiệm, số lượng Phó chủ nhiệm do Bộ Chính trị quyết định.
Ủy ban kiểm tra tỉnh, thành ủy có 11 - 13 ủy viên. Riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, TP.HCM có 13 - 15 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định).
Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội và Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, có 9-11 ủy viên.
Riêng Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Chính phủ có 11-13 ủy viên. Các ủy viên chuyên trách có 2-3 phó chủ nhiệm và một số ủy viên, riêng Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Chính phủ có 3-4 phó chủ nhiệm, phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên.
Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương có 11-13 ủy viên (do Quân ủy Trung ương quyết định). Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương có 11-13 ủy viên (do Đảng ủy Công an Trung ương quyết định).
Về ủy ban kiểm tra đảng ủy xã, phường, đặc khu, có 3-7 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định).
Tăng quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Quy định tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm.
Cụ thể, Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, cấp ủy viên cấp trên cơ sở trở xuống.
Khiển trách, cảnh cáo, cách chức cấp ủy viên tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ đương chức và nghỉ hưu), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là ủy viên Trung ương Đảng.
Ngoài ra, quy định rõ hơn về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm của ban thường vụ, đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
Quy định bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn.
Trường hợp người tố cáo được mời (2 lần) nhưng không đến làm việc mà không có lý do chính đáng, tổ chức Đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo lập biên bản, không xem xét, giải quyết tố cáo, lưu hồ sơ kết thúc.
Quy định nêu rõ không giải quyết đơn tố cáo đang được cấp có thẩm quyền giải quyết. Kết luận giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội dung tố cáo sai, tố cáo không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận, tố cáo đúng có khuyết điểm, tố cáo đúng có vi phạm.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận