Những Vệ út trên chiến hào vệ quốc

11/12/2006 06:04 GMT+7

TT - Đó là những đứa trẻ nghèo, mồ côi bán báo, bán bánh mì hay đánh giày lang thang trên những hè phố Hà Nội kiếm sống. Cái đói vàng mắt năm 1945 đã xua những đứa trẻ ấy dật dờ về sống ở xóm lao động nghèo Phúc Tân, Phúc Xá ven sông Hồng cho đến khi ánh điện Nhà máy điện Yên Phụ phụt tắt: toàn quốc kháng chiến bùng nổ.

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến. Những Vệ quốc quân của Trung đoàn Thủ đô đã lập chiến lũy giữa Hà Nội đương đầu với Pháp, để Chính phủ lâm thời rút lên chiến khu Việt Bắc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Ít ai biết trong lực lượng Vệ quốc quân ngày ấy có một “lực lượng đặc biệt” với tên gọi thân thương: Vệ út. Những chiến sĩ khi ấy tuổi mới lên 10. Và giờ đây, sau 60 năm, những câu chuyện lần đầu tiên được kể lại.

rhqSLe1m.jpgPhóng to
Những Vệ út trong mùa đông 1946 - Ảnh tư liệu
TT - Đó là những đứa trẻ nghèo, mồ côi bán báo, bán bánh mì hay đánh giày lang thang trên những hè phố Hà Nội kiếm sống. Cái đói vàng mắt năm 1945 đã xua những đứa trẻ ấy dật dờ về sống ở xóm lao động nghèo Phúc Tân, Phúc Xá ven sông Hồng cho đến khi ánh điện Nhà máy điện Yên Phụ phụt tắt: toàn quốc kháng chiến bùng nổ.

Bãi Phúc Tân rực cháy

Gặp lại những Vệ út năm xưa, họ đều khẳng định rằng không thể nào quên những năm tháng tuổi thơ sống cùng nhau ở khu lao động nghèo trên bãi Phúc Tân, chính nơi đó là mái nhà chung đầu tiên của rất nhiều Vệ út trước khi trở thành chiến sĩ cảm tử quân nhỏ tuổi.

Trong hồi ký Chiến đấu trong vòng vây - trận Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Ngày 14-1-1947, chúng ta thống nhất với lãnh sự Trung Hoa, Anh, Pháp và Mỹ cùng phía Pháp ngừng bắn 24 giờ đưa Hoa kiều, Ấn kiều và thường dân ra khỏi khu vực chiến sự. Bộ tổng chỉ huy quyết định chỉ để lại Liên khu 1 (một bộ phận của Trung đoàn Thủ đô, khoảng 500 người) ở lại. Nhưng điều ta không dự kiến là có những người đã trốn ở lại để tiếp tục chiến đấu, trong số này có 200 phụ nữ và 175 em nhỏ”.

60 năm sau, trong căn xép nhỏ trên đường Phan Đình Phùng (Q.Ba Đình, Hà Nội), trung tá Phùng Đệ (Xưởng phim Quân đội) - một Vệ út năm xưa - bồi hồi nhớ lại: “Mới lên 4, tôi trở thành cậu bé mồ côi khi cơn bạo bệnh đã cướp đi người cha của mình. Những tháng ngày sau đó, người dân vùng Bưởi ven hồ Tây không còn lạ cảnh một đứa bé lẫm chẫm theo mẹ bán hàng rong rồi tối về ngủ trong căn nhà lá ổ chuột, ẩm ướt. Cuộc sống bần cùng và lần ăn từng bữa nhưng ít ra vẫn còn mẹ che chở”. Cậu bé Phùng Đệ lại mất đi tình thương của người mẹ lúc mới 12 tuổi khi cơn đói năm 1945 tràn đến. Tuyệt vọng, cậu bé “cầu bất cầu bơ” theo người cô họ xa ra ở bãi Phúc Tân.

Còn tuổi thơ của Vệ út Vũ Trọng Phụng, nguyên đại tá quân đội về hưu (hiện đang sống tại Hà Nội), cũng là những “tháng ngày dữ dội” nhất. Mồ côi cha năm lên 7, mồ côi mẹ lúc lên 10, ngôi nhà ở phố Gầm Cầu bị Pháp đốt, cậu bé Phụng dạt xuống ở bãi Phúc Tân với nghề bán kẹo, bán bánh mì rồi đi thổi lò rèn.

Bãi Phúc Tân khi ấy là một doi đất nổi lên giữa sông Hồng. Hơn 100 túp lều tranh tre tạm bợ, xiêu vẹo của người lao động nghèo và cũng là nơi tiếp nhận hàng chục đứa trẻ bất hạnh từ khắp nơi dạt đến. Những đứa trẻ này dần dần quen nhau và trở nên thân thiết như anh em một nhà. Ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ 19-12-1946, bãi Phúc Tân lửa sáng rực trời. Ông Lê Trung Toản, nguyên chính ủy Trung đoàn Thủ đô trong 60 ngày đêm kháng chiến, kể rằng quân Pháp đã đốt cháy những căn nhà lá ven sông để chặn đường tiếp tế từ bên ngoài vào thủ đô. Thân phận những đứa trẻ nghèo cũng bị đốt theo ngọn lửa chiến tranh.

Bức mật đồ và chiếc áo Việt minh

cL1A96uY.jpgPhóng to
cQjnwLXH.jpg
Vệ út Phùng Đệ năm 1946 và ông Phùng Đệ bây giờ - Ảnh tư liệu - TR.Đ.TÚ
Hà Nội và cả nước đã bắt đầu nổ súng kháng chiến. Lệnh tản cư kháng chiến được ban hành, hàng vạn người dân Hà Nội lặng lẽ dời thủ đô đi về các tỉnh vùng sau lưng địch: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình... Nhưng những đứa trẻ bãi Phúc Tân lại tìm đường quay lại thủ đô, tìm đến các chiến lũy. Ông Nguyễn Văn Phúc, khi ấy mới 11 tuổi, một trong những Vệ út đầu tiên làm liên lạc cho đại đội 1, tiểu đoàn 101 (Trung đoàn Thủ đô), kể: “Điều kỳ lạ là tôi và nhiều đứa trẻ cùng tuổi khác đều tìm cách trốn tản cư ở lại tham gia kháng chiến. Mục đích của bọn tôi cũng thật hồn nhiên: ở lại để đánh những đứa đã đốt nhà trên bãi Phúc Tân".

Những đêm đầu không có chăn chiếu, những đứa trẻ bãi Phúc Tân nằm co ro rét mướt ở hiên nhà. Nhưng đêm sau, có một anh dáng người cao gầy đem đến cho mấy đứa một chiếc chiếu đắp đỡ rét. Rồi một ngày, anh “cao gầy” đưa cho những đứa trẻ một bức thư trong có những ký hiệu lạ: đầu tiên là hình tháp rùa, phía sau là mũi tên và hình chiếc tàu điện, tiếp theo là hình chiếc cầu có ghi thêm một từ "Giấy", cuối cùng là hình một ngôi đền phía trước có thêm hình con voi phục. “Suy luận mãi chúng tôi mới hiểu ý: lên bờ hồ đi tàu điện đến Cầu Giấy để đến đền Voi Phục. Ngay tối hôm ấy, ba đứa được kết nạp vào Đội thiếu niên Hoàng Văn Thụ mới té ngửa ra người nói chuyện với mình hằng đêm là anh Phong Nhã, phụ trách Đội thiếu nhi kháng chiến Hà Nội lúc bấy giờ. Sau đó, tôi được vào hàng ngũ Vệ quốc đoàn làm liên lạc cho tiểu đoàn 101 chiến đấu bảo vệ Bắc bộ phủ” - ông Phúc kể. Ngày đầu tiên trong đội quân cảm tử, Vệ út Phúc được các anh chị trong Vệ quốc đoàn dành cho một chiếc áo sơmi màu cỏ úa thay thế chiếc áo “bốn mùa” rách nát. “Chiếc áo ngắn của các anh mình mặc dài đến gối nhưng ấm áp vô cùng. Chiếc áo đánh dấu bước ngoặt của một cậu bé lang thang thành một người em út trong đội Vệ quốc quân quyết tử" - ông Phúc nhớ lại.

Cùng thời gian, người bạn của Nguyễn Văn Phúc là Trần Việt Minh cũng đã được "biên chế" vào làm liên lạc cho trung đội 1, tiểu đoàn 102 chiến đấu ở khu Đông Thành và Nguyễn Văn Lưu làm liên lạc cho tiểu đoàn 103 với nhiệm vụ kìm chân Pháp ở khu Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông Lê Trung Toản, nguyên chính ủy Trung đoàn Thủ đô khi ấy, cho biết có hơn 170 em nhỏ ở Hà Nội và ở nhiều nơi khác đã trở thành Vệ quốc quân.

--------------------

Trong làn lửa đạn, những Vệ út lao ra để truyền mật lệnh chiến đấu, làm liên lạc, tiếp tế cứu thương…, cùng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Có những Vệ út đã ngã xuống nhưng sự kiên cường sống mãi.

Đón đọc kỳ tới: Những “Gavroche” Hà thành

TRẦN ĐÌNH TÚ
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận