Phóng to |
| Tham luận tại diễn đàn “Phong trào SV NCKH khối CĐ-ĐH ngoài công lập”, ngày 7-1-2005, ĐHDL Kỹ thuật công nghệ |
Thế nhưng, theo số liệu do Bộ GD-ĐT công bố trong năm học 2002-2003, tổng số giảng viên (GV) trong các trường ĐH và CĐ trên cả nước là 38.608 người, trong đó có 5.476 tiến sĩ, 10.598 thạc sĩ và 21.239 GV có trình độ ĐH - CĐ. Và cũng theo đánh giá của bộ, có đến 50% số GV chưa tham gia NCKH.
Cuộc khảo sát thống kê do Trung tâm Nghiên cứu giáo dục ĐH (Viện Nghiên cứu giáo dục) cho thấy: hơn 20% số SV cho biết họ hoàn toàn không biết gì về NCKH, không có khái niệm gì về NCKH và cũng chưa từng được giáo viên hướng dẫn, đọc nghiên cứu của người khác... cho dù hơn 60% cho rằng NCKH là quan trọng.
Đó là nói về số lượng, còn chất lượng thì có lẽ ai cũng thấy một thực trạng là có quá ít những công trình NCKH đi được vào thực tiễn của khoa học (tức đóng góp về nhận thức khoa học) cũng như của cuộc sống (tức góp phần cải thiện thực tiễn lao động, sản xuất).
Ở đây chúng tôi không đi tìm những nguyên nhân của thực trạng này mà sẽ đi thẳng vào việc tìm kiếm những giải pháp khả dĩ thúc đẩy được việc NCKH nơi GV và SV ở các trường CĐ - ĐH, mà cụ thể là khối CĐ - ĐH ngoài công lập.
Để có thể tiến hành công việc NCKH, GV và SV phải có được hai điều kiện quan trọng: cơ hội (đề tài và kinh phí) và kỹ năng NCKH.
1. Cơ hội NCKH
Một điều dễ nhận thấy là đa số các trường CĐ-ĐH ngoài công lập trên địa bàn TP.HCM nói riêng và trên cả nước nói chung đều có tuổi đời rất non trẻ và đang trong quá trình hoàn thiện về cơ cấu tổ chức cũng như nhân lực. Vì vậy, có thể nói rằng bề dày NCKH của nhóm trường này còn rất yếu nên chưa tạo được uy tín và niềm tin cho xã hội, dù trường nào cũng dành một khoản ngân sách nhất định cho hoạt động NCKH. Vì vậy, giải pháp đầu tiên là các trường phải tìm và tự tạo nên các cơ hội NCKH. Nhưng bằng cách nào để tìm và tạo cơ hội NCKH cho chính mình?
- Liên kết với các cơ quan, viện nghiên cứu ở trung ương và địa phương
Một điều dễ nhận thấy là nước ta hiện có rất nhiều cơ quan, viện nghiên cứu và hằng năm các thiết chế này đều thực hiện rất nhiều đề tài NCKH theo đơn đặt hàng từ Nhà nước hoặc từ các doanh nghiệp. Đây rõ ràng là một “nguồn” cơ hội NCKH rất lớn cho GV và SV, nhưng một trong những điểm yếu lớn nhất của hệ thống giáo dục ĐH nước ta là sự tách rời giữa các trường ĐH với các cơ quan, viện NCKH khiến những người làm khoa học ít được tham gia giảng dạy và cán bộ giảng dạy ĐH cũng bị hạn chế trong việc tham gia NCKH, SV cũng ít được tiếp cận những tri thức từ những nhà khoa học giỏi.
Chính vì vậy, ngay từ bây giờ khối CĐ-ĐH ngoài công lập cần thiết lập mối liên kết theo kiểu “đôi bên cùng có lợi” với các cơ quan, viện nghiên cứu: các cơ quan, viện nghiên cứu sẽ tạo điều kiện cho GV, SV tham gia thực hiện các đề tài NCKH. Đổi lại, các trường sẽ mời các nhà nghiên cứu ở các cơ quan ấy tham gia việc giảng dạy. Nếu tạo được “hợp đồng” này, cơ hội nghiên cứu sẽ rất nhiều và đây cũng là cách quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo.
- Liên kết với cộng đồng doanh nghiệp
Cộng đồng doanh nghiệp chính là một trong những nhà tài trợ mạnh mẽ nhất cho hoạt động NCKH. Tại các nước tiên tiến, các trường ĐH luôn có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp bởi đây là mối quan hệ cộng sinh: các doanh nghiệp thì được các giải pháp, còn các trường ĐH thì có thêm nguồn thu để đầu tư cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu của mình.
Ở nước ta, mối quan hệ giữa hai thực thể này còn khá mờ nhạt bởi hình như trường ĐH chưa cung cấp được cái mà doanh nghiệp cần. Do vậy, để tăng các cơ hội NCKH, khối CĐ-ĐH cần nghĩ đến cộng đồng doanh nghiệp mà việc đầu tiên phải làm là làm sao cho họ thấy được lợi ích thật sự của việc gắn kết với các trường ĐH.
Đây là điều không dễ dàng bởi phải cạnh tranh với các trường ĐH công lập vốn đã có truyền thống và kinh nghiệm dày dạn trong NCKH, nhưng đây là điều mà khối CĐ-ĐH ngoài công lập phải nhắm tới. Có thể trong thời gian đầu chúng ta sẽ không đứng riêng lẻ mà cần liên kết lại với nhau (tức cùng nhau thực hiện các đề tài NCKH do doanh nghiệp đặt hàng) bởi hợp lực là cách tốt nhất để tạo nên sức mạnh.
- Lập “quĩ NCKH” của khối CĐ-ĐH ngoài công lập
Hiện nay, ngân sách dành cho NCKH của quốc gia chắc có lẽ chỉ dành cho các cơ quan, viện nghiên cứu của Nhà nước hoặc các trường công mà thôi nên các trường thuộc khối CĐ-ĐH ngoài công lập sẽ không thể “chen chân” vào “bầu sữa ngân sách” này được. Vì vậy, các trường phải tự tạo ra bầu sữa của chính mình, tức tự tạo nguồn ngân sách cho chính mình.
Để thực hiện được điều đó, khối CĐ-ĐH ngoài công lập nên tiến tới việc thành lập một “quĩ NCKH chung” của khối bằng cách qui định hằng năm mỗi trường sẽ đóng góp một khoản kinh phí nhất định để tài trợ cho các đề tài NCKH khả thi nhất của GV cũng như SV trong cả khối (hiện tại có trên dưới 10 trường). Các đề tài và mức tài trợ sẽ do hội đồng khoa học của khối quyết định dựa trên những tiêu chí khoa học và khách quan. Khi có quĩ NCKH này, các cơ hội để tiến hành các đề tài sẽ gia tăng bởi khi đó ta dựa vào tiềm lực của chính mình chứ không chỉ trông chờ sự hỗ trợ từ bên ngoài. Đây có lẽ là bước đi căn cơ nhất.
2. Kỹ năng - năng lực NCKH
Mọi cơ hội sẽ trở nên vô nghĩa khi chúng ta không có năng lực để hiện thực hóa chúng. Điều này có nghĩa rằng việc NCKH sẽ không thể tiến hành được nếu chúng ta không có đủ những kỹ năng và phương pháp nghiên cứu.
Hiện nay, có ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều nghiên cứu của GV và SV (có thể hiểu là những nhà nghiên cứu trẻ) chưa đóng góp được nhiều điều mới mẻ cho khoa học, cho thực tiễn lao động - sản xuất mà mới chỉ dừng lại ở tính chất phong trào… là bởi năng lực của người nghiên cứu chưa đủ mạnh. Năng lực nghiên cứu ở đây, theo cách nghĩ của chúng tôi, chính là niềm đam mê, sự nghiêm túc, tính trung thực, nền tảng lý thuyết, nền tảng phương pháp luận cũng như những kỹ thuật, kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu về một lĩnh vực nghiên cứu nào đó của nhà nghiên cứu. Câu hỏi đặt ra là vì sao nội lực nghiên cứu ấy lại yếu nơi nhiều nhà nghiên cứu?
Một điều dễ nhận thấy là năng lực nghiên cứu ấy không tự nhiên đến mà nó là kết quả của những nỗ lực tự thân của nhà nghiên cứu cộng với những trang bị mà họ nhận được từ cơ sở, trường học mà họ được đào tạo. Vì vậy, để nâng cao nội lực nghiên cứu của GV và SV nhằm biến các cơ hội nghiên cứu thành hiện thực, chúng tôi cho rằng khối ĐH ngoài công lập cần tạo nên một “không gian học thuật chung”. Không gian học thuật này (các diễn đàn, các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt ngoại khóa...) sẽ là nơi gặp gỡ, chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm, những hiểu biết cần thiết trong nghiên cứu giữa GV với GV, giữa GV với SV cũng như giữa SV với SV. Không gian học thuật cũng là nơi để các nhà quản lý trong khối trao đổi những kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn trong việc phát triển hoạt động NCKH trong đơn vị mình.
Một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để không gian học thuật ấy hoạt động có hiệu quả? Muốn có hiệu quả thì người ta phải có thời gian để tham gia và suy nghĩ về nó. Có nghĩa rằng các trường trong khối cần tìm cách giảm bớt thời gian lên lớp của GV và SV để họ có thời gian tham gia các hoạt động học thuật và NCKH, tức là chúng ta phải giảm tải chương trình học (số môn học) và tăng số lượng GV.
Trên đây là một số suy nghĩ nhằm đẩy mạnh hoạt động NCKH trong khối CĐ-ĐH ngoài công lập. Cố nhiên đó không phải là những giải pháp cuối cùng mà chỉ là những gợi mở để chúng ta cùng suy nghĩ. Nhưng điểm mấu chốt là phải có sự gắn kết trong toàn khối thì hoạt động nghiên cứu mới có cơ may phát triển được.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận