12/08/2008 19:56 GMT+7

"Mỗi người đều có một món nợ với đất nước…"

Theo HIỂN DANHDoanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Theo HIỂN DANHDoanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Năm 1966 ở Sài Gòn, có một tập san đặc biệt ra đời, tên là Sử Địa, chủ biên là một thanh niên 26 tuổi vừa tốt nghiệp hai trường đại học Sư phạm và Văn khoa. Hơn 40 năm qua, người thanh niên ngày ấy nay đã là tiến sĩ sử học, được báo chí nhắc nhiều với biệt danh “người cả đời mê đắm Hoàng Sa - Trường Sa” hay “nhà Hoàng Sa học”. Ông là tiến sĩ Nguyễn Nhã.

Fk1gFHHZ.jpgPhóng to
Năm 1966 ở Sài Gòn, có một tập san đặc biệt ra đời, tên là Sử Địa, chủ biên là một thanh niên 26 tuổi vừa tốt nghiệp hai trường đại học Sư phạm và Văn khoa. Hơn 40 năm qua, người thanh niên ngày ấy nay đã là tiến sĩ sử học, được báo chí nhắc nhiều với biệt danh “người cả đời mê đắm Hoàng Sa - Trường Sa” hay “nhà Hoàng Sa học”. Ông là tiến sĩ Nguyễn Nhã.

Tự nhận nghiên cứu chỉ là nghề tay trái so với dạy học, nhưng hễ nơi đâu xuất hiện các nhóm nghiên cứu về văn hóa dân tộc, lại thấy sự góp mặt của ông, từ ca trù, hát thơ đến ẩm thực Việt Nam. Có thể nói, ông gần như đã dành trọn cuộc đời cho từ “nghiên cứu”.

Chúng tôi gặp ông vào một buổi chiều trong chính ngôi nhà nhỏ - nơi còn được ông biến thành một “Trà đài” cho khách tao nhân...

* Vào đầu năm 2008, ông đã gửi một đề án đến Sở Giáo dục TP.HCM, đề nghị đưa ca trù, hát thơ vào trường học. Đâu là lý do khiến ông nảy ra ý tưởng khá táo bạo này?

- Tôi lại cho rằng đây là một việc rất nên làm và cần làm. Ca trù hát thơ là tinh hoa của âm nhạc truyền thống. Các làn điệu dân ca, ca cổ của ta đều dựa vào thơ mà phát triển, sáng tạo trong khi Việt Nam lại là một trong những nước học thi ca nhiều nhất, từ mẫu giáo đến đại học. Khi thơ được hát trên hàng trăm làn điệu ca cổ, học sinh nghe dễ thấm được cái hồn của âm nhạc dân tộc hơn, không còn dị ứng với văn hóa truyền thống.

* Nghĩa là theo ông, các học sinh thời nay đang dị ứng với văn hóa truyền thống?

- Thời nay, nhiều bạn trẻ cứ nghe đến ca trù, dân ca thì lập tức chuyển kênh, nhưng khi nghe giáo sư Trần Văn Khê nói chuyện về nghệ thuật truyền thống thì lại thích mê. Tại sao như vậy? Thời xưa, chúng tôi lớn lên trong lời ru của mẹ, nghe dân ca từ thuở lọt lòng. Nay thì còn có mấy ai ru con đâu! Đó chỉ là một ví dụ nhỏ. Trong khi vốn liếng văn hóa truyền thống từ gia đình đang bị mai một, học đường lại chưa chuẩn bị thì hụt hẫng là lẽ đương nhiên.

Tôi nghĩ rằng một trong những sai lầm của giáo dục Việt Nam là không dạy âm nhạc truyền thống cho giới trẻ. Tại Thái Lan, các trường từ cấp tiểu học đều có phòng trưng bày các nhạc cụ dân tộc và tổ chức ngoại khóa âm nhạc để giới trẻ hiểu biết về âm nhạc dân gian. Ở ta thì ngay trong các trường nhạc chính quy như Nhạc viện Hà Nội, cả thầy lẫn trò đều được đào tạo rất bài bản về âm nhạc cổ điển phương Tây hay tân nhạc, nhưng ca trù lại mới chỉ được giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong chính thức giới thiệu khi giảng dạy ở đây hai năm trước.

Có một nghịch lý là người Việt Nam yêu nước nồng nàn, đánh giặc rất giỏi nhưng không để tâm nhiều đến việc bảo tồn văn hóa dân tộc một cách bài bản. Độc lập tự chủ rồi mà hàng ngàn năm ta vẫn chỉ thiên về Nho học, sử học của phong kiến phương Bắc bằng chữ Hán, trong lúc chữ Nôm và quốc sử đã có mặt từ thế kỷ XIII! Rồi đến khi những luồng văn hóa ngoại lai tràn vào, người dân Việt, nhất là giới trẻ, hẳn nhiên là không “đỡ” nổi.

* Đề án của ông sau khi gửi đến nay đã có kết quả gì chưa?

- Tôi vẫn đang chờ câu trả lời từ Sở Giáo dục TP.HCM và hy vọng là đề án sẽ được áp dụng vào năm học sau.

* Ông tin rằng đề án của mình sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho âm nhạc dân tộc và cho giới trẻ?

- Dù ít dù nhiều, đề án trên cũng là cách để giới trẻ tiếp cận, làm quen và giữ lửa với âm nhạc truyền thống, để tạo nên những người quan tâm đến văn hóa dân tộc thực sự chứ không phải chỉ biết nói suông.

* Trước khi có đề án đưa ca trù vào trường học, ông đã từng khởi động đề án kết hợp ca trù với ẩm thực. Ông thấy gì qua sự “se duyên” này?

- Cả ca trù, hát thơ và ẩm thực đều là những loại hình văn hóa đặc sắc và rất Việt Nam. Nghe hát ca trù là thưởng thức một món ăn tinh thần, ẩm thực lại là miếng ngon vật chất. Câu lạc bộ ca trù do tôi thành lập và làm chủ nhiệm từ năm 2000 đã bắt đầu có khách hàng và xuất hiện ở một số nhà hàng, các buổi tiệc mừng thọ, họp mặt truyền thống gia đình...

* Có cảm giác như những người sử dụng “dịch vụ” của ông toàn là những người đã có tuổi...

- Muốn giải quyết vấn đề này và “trẻ hóa” lực lượng khách hàng thì lại tiếp tục chờ đợi câu trả lời từ ngành giáo dục mà thôi!

* Gần đến tuổi thất thập cổ lai hy, ông vẫn còn hăng hái làm “chủ xị” trong việc thành lập Viện nghiên cứu ẩm thực Việt Nam vào tháng 10-2007. Dường như tuổi tác chưa làm ông mệt mỏi?

- Nhắc đến từ “nghiên cứu”, tôi chưa bao giờ cảm thấy mệt mỏi, bởi mình luôn có những động lực để dấn thân. Có hai động lực khiến tôi dấn mình vào chuyện này. Một là ẩm thực Việt Nam quá đặc sắc nên mình quý, mình yêu. Hai là khi thấy cái mình yêu quý như vậy đang bị tổn thương thì phải xắn tay áo lên mà nhảy vào làm. Chưa bao giờ và cũng chưa ở đất nước nào, ẩm thực lại thu hút đông đảo nhiều người, nhiều gia đình tham gia như thế. Nhưng thực tế là ẩm thực Việt Nam đang bề bộn và lộn xộn. Nó bắt buộc cả những nhà khoa học cũng phải tham gia để có được tính hệ thống, chân thực và nghệ thuật hơn.

* Cái bề bộn và lộn xộn theo như ông nói là như thế nào?

- Chưa bao giờ người Việt ăn uống tràn lan như hiện nay! Khi hàng vạn, hàng trăm vạn gia đình có người giỏi bếp núc đều ra kinh doanh nhà hàng mà không qua trường lớp hay theo bài bản nào thì cái dở nhiều hơn cái hay. Bữa ăn tuy ngon đó nhưng thiếu hẳn vệ sinh an toàn thực phẩm. Người Việt đang đứng trước nguy cơ mắc nhiều căn bệnh nguy hiểm cũng do miếng ăn mà ra.

* Nghĩa là món ăn Việt ngon nhưng chưa lành?

- Bản thân món ăn Việt vốn là lành. Nguyên vật liệu thì chủ yếu là cơm, cá, rau, củ, quả, rất lành. Cách chế biến thì phần nhiều là hấp và luộc, ít chiên xào, cũng lành không kém. Cách ăn của ông cha từ xưa vốn đã rất lành vì gần gũi với thiên nhiên, biết cân bằng âm dương, nóng lạnh, như cảm lạnh thì ăn cháo hành tiêu, tía tô cho ấm. Thịt bò tái lạnh ăn với gừng nóng, thịt gà hàn phải đi kèm với muối tiêu, lá chanh, vừa hợp vị vừa hài hòa... Thời nay thì rau củ gì cũng... bị thuốc, người dân ăn uống từ đầu đường đến xó chợ...

Trong khi đó, bữa cơm gia đình vốn được coi là một món ăn bài thuốc, món ăn tự nhiên và hợp khẩu vị nhất, vừa ngon vừa lành thì đang ngày càng vắng bóng. Chính điều đó vô tình biến những món ăn vốn lành thành không lành. Có vẻ nhiều người chưa phát huy văn hóa ăn uống của mình. Họ quên mất rằng muốn bảo vệ sức khỏe thì phải bảo vệ cho được mâm cơm gia đình trước đã. Suy nghĩ tạo nên nếp sống, nếp sống hình thành thói quen. Mà đã là thói quen thì khó sửa vô cùng.

* Trong các đề án của ông về Viện nghiên cứu ẩm thực, có đề án nào liên quan đến chuyện khắc phục thói quen khó sửa này không?

- Một trong những đề án quan trọng của Viện là về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Chúng tôi đang chủ trương tạo nên các tiêu chuẩn mới trong ẩm thực như Visa hay Visala (sạch - lành), trong đó đề cập đến việc tổ chức quản lý từ khâu nuôi trồng đến khi vào bước chế biến và phục vụ trong nhà hàng. Mặt khác, chúng tôi còn đang tiến hành nghiên cứu và hình thành một quan niệm mới về “thực đạo” Việt Nam, với mục tiêu góp phần đưa bếp Việt thành bếp quốc tế, đưa Việt Nam thành một cường quốc về ẩm thực trên thế giới.

* Nói một cách ngắn gọn thì ông giải thích thực đạo là gì?

- Thực đạo là một nghệ thuật ẩm thực ngon và lành. Nhật có trà đạo với thiền làm gốc, Việt Nam cũng có thể tạo nên thực đạo lấy tự nhiên làm gốc, không những ngon mà còn phải lành. Thực đạo Việt mà tôi hướng đến không chỉ tốt cho sức khỏe con người, đó còn là một nét văn hóa mang tính nghệ thuật cao.

* Những công việc của Viện nghe có vẻ rất… vĩ mô. Ông có tin rằng ở tuổi này, mình còn đủ thời gian để về đến đích?

- Đời sống con người ngắn ngủi, nhưng phát triển ẩm thực là vấn đề của cả dân tộc. Bên cạnh tôi vẫn còn rất nhiều người tâm huyết với ẩm thực. Tôi chỉ muốn đóng góp một ý tưởng, xem mình như chất xúc tác, làm tất cả những gì tốt nhất để khơi dậy tiềm năng của ẩm thực Việt Nam. Đến khi nào tôi không còn làm được nữa, những đồng sự sẽ tiếp tục bước đi. Còn trước mắt, tôi đang cố gắng hoàn thành quyển sách “Bản sắc ẩm thực Việt Nam”. Đó là tâm huyết, đúc kết của hơn mười năm trời nghiên cứu về ẩm thực Việt. Tôi cho rằng đây là sẽ quyển sách đầy đủ nhất, hệ thống nhất và khoa học nhất về cái ngon lành trên khắp cả nước, từ Bắc vào Nam.

* Khi nói về văn hóa ẩm thực, theo ông thì đâu là điểm khác biệt giữa văn hóa ẩm thực ba miền?

- Ẩm thực ba miền có chung đặc điểm là đều xuất phát từ nền văn minh lúa nước, lấy lúa gạo làm nền tảng và thích dùng nước mắm để chấm, nêm. Tuy nhiên, do quá trình mở mang bờ cõi có đồng hành với người Hoa, người dân Nam bộ thích nêm chua ngọt, thích hủ tiếu, mì, chuộng dùng nước tương. Trái lại, ẩm thực miền Bắc thường có thói quen đi ngược lại với ẩm thực Hoa, như thích mặn thay vì chua ngọt, không thích mì, thường dùng nước mắm và không ưa nước tương...

Sự trái ngược này, theo tôi, là hệ quả của hơn một ngàn năm Bắc thuộc. Nỗi nhục vong quốc đã hình thành ý thức phản kháng một cách tự nhiên trước âm mưu Hán hóa của phong kiến phương Bắc. Cũng như việc nhuộm răng đen, ý thức phản kháng đã đi vào bữa cơm hàng ngày, bền bỉ chảy như những mạch nước ngầm, lan tỏa, tiếp nối và hợp lưu từ thế hệ này qua thế hệ khác.

* Nhân nói về “phương Bắc”, còn nhớ hồi tháng 12-2007, sau khi Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa trên ba quần đảo, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa, ông cùng một số tác giả đã có loạt bài viết khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này. Loạt bài trên đã đoạt giải nhất giải Báo chí của Hội Nhà báo TP.HCM…

- Đó là một quá trình cam go và nhiều thử thách. Tuy nhiên, đây là vấn đề tôi đã nghiên cứu từ trước năm 1975, khi đang là chủ biên tập san Sử Địa nên nguồn tư liệu đã rất dày công. Trong hai năm 2002 và 2003, tôi còn bảo vệ luận án tiến sĩ về “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, đúng ngày kỷ niệm 29 năm nổ súng ở Hoàng Sa (18-1-1974).

Mấy mươi năm đeo đuổi một đề tài bởi tôi hiểu được rằng Hoàng Sa - Trường Sa quan trọng như yết hầu của Việt Nam nên quyết chí tìm hiểu đến cùng. Đây là vấn đề an ninh quốc phòng quan trọng về lâu về dài mà chính quyền không thể bỏ qua, mọi người dân Việt Nam không thể và không được phép bỏ qua. Dửng dưng là có tội với nước non!

* Thời bây giờ, việc tìm kiếm tư liệu có phần dễ dàng hơn nhờ điện thoại, Internet… nhưng cách đây 30 năm, quá trình thu thập tài liệu của ông hẳn là gặp không ít khó khăn?

- Buổi ban đầu, tôi xuất phát từ con số không. Ngày ấy, khi nghe tôi quyết định làm đặc khảo về vấn đề chủ quyền của Hoàng Sa - Trường Sa, nhiều người can ngăn quyết liệt. Có vị học giả còn khuyên: “Chuyện này nhà nước đang tập trung để làm, sức mấy các cậu làm được! Làm kém còn thêm mang tiếng!”. Tôi coi đó như một lời thách thức và càng quyết tâm dữ dội. May mắn thay, đề tài của tôi đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước.

Những học giả nổi tiếng như ông Hoàng Xuân Hãn ở Paris (Pháp), ông Lãng Hồ Nguyễn Khắc Kham ở Tokyo (Nhật), ông Quốc Tuấn ở New Delhi (Ấn Độ)... đều gửi bài viết tham gia. Chỉ trong vài tháng, tôi đã có một tập tài liệu quý giá. Ngày 20-1-1975, chúng tôi xuất bản ấn phẩm và tổ chức buổi triển lãm về Hoàng Sa tại Thư viện quốc gia. Tập đặc khảo và buổi triển lãm được nhiều nhà nghiên cứu thời đó đánh giá là “mang tầm vóc quốc tế”. Cả nhóm biên soạn xúc động ôm nhau khóc. Đến tận bây giờ, các nghiên cứu của tôi vẫn đang được nhiều người quan tâm và sử dụng làm tư liệu.

* Vậy tại sao đến năm 2003, ông mới quyết định bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài này khi đã 65 tuổi?

- Tôi không phải là người làm luận án tiến sĩ vì học vị. Tôi làm để góp phần bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam, bởi mỗi người đều có một món nợ với đất nước. Ngày ấy, giáo sư Hồ Sĩ Khoách khuyên tôi nên chọn đề tài khác là Việc tổ chức thi hương, thi hội, thi đình dưới thời Pháp thuộc cho đỡ nhọc công và ít bị bắt bẻ. Tôi nói nếu không được trình và bảo vệ đề tài khó nuốt kia thì quyết chí không màng đến học vị tiến sĩ.

Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, ngày 18-1-1974 nổ súng ở Hoàng Sa thì 29 năm sau, tôi bảo vệ luận án tiến sĩ cũng đúng ngày 18-1. Kết thúc buổi bảo vệ, ông Huỳnh Lứa, khi ấy là hướng dẫn đề tài cho tôi, thở phào nhẹ nhõm mà rằng: “Ông dũng cảm lắm mới chọn đề tài này, còn tôi cũng dũng cảm không kém mới dám nhận lời hướng dẫn!”.

* Ông từng lưu giữ những bằng chứng xác thực và đầy đủ về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam?

- Từ đầu thế kỷ XVII, trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã mô tả chi tiết về sự hình thành của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, mỗi năm được cấp lương sáu tháng và điều ra Hoàng Sa. Đội dân binh này vẫn tiếp tục tồn tại mãi đến thời nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX. Lúc này, hệ thống biên niên sử và địa dư chí như Châu bản triều Nguyễn, Hội điển, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí... đã ghi chép hoạt động của đội thủy binh Hoàng Sa một cách rõ ràng.

Do ảnh hưởng cách chiếm hữu đất đai của người phương Tây, từ năm 1816 thời Gia Long đến năm 1836 thời Minh Mạng, hàng năm triều đình Nguyễn đã cử đội thủy binh dùng thuyền chở rất nhiều cột mốc đến cắm hay dựng bia tại các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, thể hiện sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này. Ở nước ta có điều đặc biệt là tất cả các tài liệu đều là tài liệu công. Vua nói gì, quan nói gì về chủ quyền Hoàng Sa đều được sử gia chép lại. Trung Quốc lại không có tài liệu chính sử nào nói về việc này.

Tây Sa, Nam Sa là tên gọi xuất hiện từ sau năm 1909, khi họ cho đó là hai quần đảo vô chủ. Vài tư liệu của Trung Quốc còn cho rằng ở đảo Vĩnh Hưng (thuộc Hoàng Sa) vẫn còn di tích của một ngôi miếu mang tên Hoàng Sa Tự. Tôi “bắt giò” được sơ suất này, bởi tên Hoàng Sa xuất phát từ Việt Nam và việc xây dựng còn ghi rõ trong sách sử...

Tài liệu thì đã sẵn rất nhiều nhưng chúng ta vẫn chưa có những tài liệu bằng tiếng Anh, Pháp, Hoa hay Nhật phát hành rộng rãi trong nước và thế giới về vấn đề này. Ngay cả các công trình của tôi đã nhận được bao lời hứa hẹn dịch ra nhiều thứ tiếng nhưng đến nay vẫn... còn nguyên!

* Cảm giác của ông thế nào khi người ta ca ngợi ông là người bảo vệ Hoàng Sa bằng ngòi bút?

- Khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa là việc của nhà nước, nhưng mỗi người dân đều có trách nhiệm bảo vệ phần máu thịt này của Tổ quốc. Tôi nghĩ một người có tầm nhìn xa phải luôn có một động lực để hướng về. Thời xưa cha ông ta xem vong quốc là mối nhục lớn nhất nên đoàn kết lại mà đánh giặc. Thời bình, sao ta không lấy sự tụt hậu làm động lực để vươn lên? Ngày nào còn tụt hậu, ngày nào nước Việt chưa có nội lực vững mạnh, ngày đó chúng ta còn thắt thỏm với Hoàng Sa - Trường Sa.

Những nghiên cứu của tôi chỉ là góp thêm một luồng gió cho nguồn động lực ấy có thể lan tỏa xa hơn, được mọi chính kiến của người Việt Nam thừa nhận và khơi gợi được mối quan tâm trong mỗi người dân, thế là hài lòng. Vấn đề chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa thực chất luôn nằm trong tâm thức của mỗi chúng ta, bởi người Việt Nam dù ở nơi nào, dù theo chính kiến nào, tôn giáo nào thì cũng đều yêu nước...

* * *

Câu chuyện giữa chúng tôi tạm dừng ở đây. Khi tiễn chúng tôi ra cửa, ông tặng chúng tôi bức An Nam đại quốc họa đồ được in lại từ năm 1975. Trên tấm bản đồ đã sờn màu giấy, ông chỉ tay vào dòng chữ Paracel seu Cát Vàng (đảo Cát Vàng - tức Hoàng Sa) tại một tọa độ như hiện nay, như minh chứng cho câu chuyện về chủ quyền đất nước. Tấm bản đồ này từng nằm trong từ điển Dictionarium Latino - Annammiticum từ năm 1838, được ông phát hiện trong thời gian thực hiện cuốn đặc khảo về Hoàng Sa - Trường Sa năm 1975 và lập tức đem đi in hơn 4.000 bản màu nguyên kích cỡ, nhằm gìn giữ một nguồn tư liệu quý cho quốc gia. Dường như với ông, Hoàng Sa - Trường Sa vẫn luôn là câu chuyện đau đáu và khắc sâu trong tâm khảm...

Theo HIỂN DANHDoanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất