Phóng to |
Sinh năm 1931 nhưng khi Triều Ân nói chuyện, ít ai có thể ngờ rằng ông đã quá tuổi “cổ lai hi”. Ông có thể đọc thơ bất cứ lúc nào, say sưa, đam mê, nhất là khi người nghe lại là các cháu gái đang độ đôi mươi tràn đầy xuân sắc! Tất nhiên là ông đọc thơ của mình và nhất thiết phải là thơ tình. Thậm chí khi những vần thơ ấy còn chưa thật “hợp tình hợp cảnh”, tác giả sẵn sàng cải biên: “Em như cơn gió lốc bay qua. Lao vào ngực Triều Ân nóng hổi” (Từ
|
Triều Ân làm thơ và thành danh với thơ từ đầu những năm 1960 khi đang còn là sinh viên khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Cuộc thi thơ báo Văn Nghệ năm 1961, giải nhất thuộc về Thái Giang với trường ca Lửa sáng rừng, ba giải nhì thuộc về ba nhà thơ: Ca Lê Hiến (Nhớ mưa quê hương), Giang Nam (Quê hương) và Triều Ân (Quê ta, anh biết chăng?). Sau đó, khi dạy học (Trường cấp III Hòa An - Cao Bằng, Trường cao đẳng Sư phạm Cao Bằng) hay làm công tác quản lý (chủ tịch Hội Văn nghệ Cao Bằng) cái nghiệp thơ vẫn cứ bám riết lấy ông. Không những thế, ông còn sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết. Tính đến nay số đầu sách của Triều Ân đã lên đến 16, 17 cuốn.
Thơ Triều Ân có một điều có thể gọi là lạ: nếu các nhà thơ dân tộc ít người luôn tâm niệm vào việc xác lập một giọng thơ độc đáo, khác biệt hẳn với giọng của các nhà thơ người Kinh (thậm chí nhiều người còn không ngần ngại “giả dân tộc” bằng cách mô phỏng sống sượng lối tư duy trực quan chất phác của dân tộc mình) thì thơ Hoàng Triều Ân “đặc” Kinh. Có thể, phẩm chất này bắt nguồn từ việc ông sinh trưởng trong một gia đình trí thức Tày mà nhiều đời đã thấm nhiễm văn hóa văn học dân tộc Kinh.
Còn bản thân ông, từ nền học vấn đến các môi trường quan hệ cũng đã cơ bản được “Kinh hóa”. Nhưng nếu như vậy, phải chăng Triều Ân đã để tuột khỏi tay cái đặc trưng cho tính tộc người trong thơ? Không phải. Triều Ân có hẳn một tập thơ mang tên Kin Mác viết bằng tiếng Tày, mà ở phần dịch ra tiếng phổ thông, người ta lại đọc thấy “chất Tày” lồ lộ.
Năm 1993, nhà thơ Triều Ân nghỉ hưu, và công việc của ông từ bấy đến nay là sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn học dân gian các dân tộc ít người, chủ yếu là người Tày ở Cao Bằng. Với một chiếc máy ghi âm, một cuốn sổ, một cây bút, nhà thơ đã đi khắp non cao thung thẳm ở Cao Bằng và các vùng lân cận, tập hợp, tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống còn tản mát trong dân gian. Nhưng có những điều lại đặt ra yêu cầu khó khăn hơn nhiều. Đó là mảng các tác phẩm văn học, lịch sử, sách bói, sách thuốc, các bài cúng, các gia huấn... được ghi lại bằng chữ Nôm Tày - tức là hệ thống chữ viết mà người Tày đã dựa vào các bộ chữ Hán để ghi lại tiếng nói của mình. “Túi khôn” của người Tày là ở đó.
Nhưng để mở cái “túi khôn” này, số người có thể đọc được Nôm Tày hiện nay chỉ đếm trên đầu ngón tay - và Triều Ân là một ngón tay trong số các ngón tay ấy. Chính vì biết Nôm Tày và có ý thức giữ gìn di sản tộc người, Triều Ân đã tìm ra hàng loạt những giá trị: Ca dao Tày - Nùng, Then Tày và những khúc hát, Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ... và còn là chủ biên của cuốn Từ điển Nôm Tày.
Bước sang tuổi 74, nhà thơ Hoàng Triều Ân còn ấp ủ nhiều dự định, như tìm hiểu bộ phận văn học chữ Hán của người Tày để từ đó khôi phục đầy đủ diện mạo nền văn học Tày trong lịch sử. Ông nói: “Người Tày đã có văn học truyền miệng, lại đã có văn học viết bằng chữ Nôm Tày, sau đó là văn học quốc ngữ. Thế nhưng bước chuyển từ văn học truyền miệng sang văn học Nôm Tày là ở đâu? Chính việc sưu tầm nghiên cứu bộ phận văn học chữ Hán của người Tày sẽ đem lại câu trả lời, hơn thế, đưa lại một sự nhận thức đầy đủ và hợp logic đối với lịch sử văn học Tày”. Khi nói tới việc này, Triều Ân trở nên sôi nổi hẳn, cái sôi nổi của nhà nghiên cứu đã đặt đúng vấn đề. Chúc cho ông mạnh khỏe và hoàn thành tốt đẹp những dự định của mình.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận