Phóng to |
|
Tiết mục "Hát thét nhạc" do nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc hát và Phạm Thị Huệ đàn tại Đêm ca trù |
Cô đào nương "nặng nợ” với ca trù
Vốn dĩ, trong lịch sử ca trù, chưa cô đào nào có thể vừa hát vừa chơi đàn đáy. Bởi đơn giản, đàn đáy rất dài, người phụ nữ khi đàn khó đủ sức để vươn tay theo các phím đàn mà thực hiện các kỹ thuật chùn, xoải một cách linh hoạt. Các bậc cao niên trong làng ca trù chỉ có thể ghi nhận về trường hợp một đào nương vừa hát vừa chơi đàn... tranh tại Hải Dương trong thời Pháp thuộc.
Phạm Thị Huệ - người tổ chức Ca quán ca trù 39 Lý Quốc Sư - là cô đào nương đầu tiên làm được điều không tưởng ấy. Sinh năm 1973, cô theo học đàn tỳ bà từ năm 8 tuổi. Để rồi khi tốt nghiệp, Huệ ở lại Nhạc viện Hà Nội đảm trách cương vị giảng viên bộ môn đàn. Ước mơ theo đuổi nghiệp ca trù từ lâu nhưng mãi tới năm 2001, cô mới có duyên gặp nghệ nhân ca trù nổi tiếng Nguyễn Thị Chúc. Rồi một thời gian tiếp, song song với việc học hát, Huệ lại lặn lội hai lần một tuần phóng xe từ Hà Nội xuống Hải Dương để thụ giáo cụ Nguyễn Phú Đẹ nổi tiếng về chơi đàn đáy - nghệ nhân cuối cùng còn sót lại của “món" đàn cực khó này.
Truyền hết "vốn" cho Huệ, cả hai nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc và Nguyễn Phú Đẹ đều khẳng định: cô có một mẫn cảm trời cho để tiếp thu những ngón nghề khó nhất trong ca trù. Cụ Đẹ kể: lần đầu gặp Huệ, cụ bật băng ghi âm tiếng đàn lên. Đã có vốn cơ bản về đàn gảy, Huệ ôm lấy cây đàn đáy, gảy theo sát từng tiếng. Cụ Đẹ phải thốt lên trước khi nhận Huệ làm học trò: "Con có đôi bàn tay vàng. Đàn được rồi, còn học gì nữa!".
Tháng 6-2006, Huệ làm lễ mở xiêm áo - "cửa ải" để các đào nương được nghệ nhân trong nghề công nhận. Cùng một lúc, Huệ thể hiện hai vai trò ca nương và kép đàn - một điều xưa nay chưa từng có trong tiền lệ của ngành nghệ thuật này. Để rồi, khi chính thức được công nhận, Huệ có thể dồn sức theo đuổi ý tưởng về một ca quán riêng cho người yêu mến ca trù...
Chút tri âm cho người tri kỷ
Bên cạnh ca trù cửa đình, ca trù trong ca quán là một hình thức sinh hoạt phổ biến tại các đô thị VN trước năm 1945. Tại Hà Nội trước đây, các ca quán ca trù nổi tiếng chủ yếu tập trung trên khu vực phố Khâm Thiên. Tuy nhiên, theo thời gian, sự biến tướng của các tệ nạn xã hội đã khiến một số người trở nên thành kiến với hình thức sinh hoạt văn hóa rất tao nhã này.
Hiện tại, Ca quán của Nhóm ca trù người Việt (gồm Huệ và hai thầy Chúc, Đẹ) vẫn chưa thể tìm được nguồn kinh phí hỗ trợ. Ý tưởng thành lập Câu lạc bộ những người yêu thích ca trù để thu phí hoạt động cũng chưa thể thực hiện - khi người "nghiện" ca trù bây giờ không còn nhiều. Vốn kinh phí do ba người bỏ ra chỉ đủ để họ mượn tạm Gallery 39 Lý Quốc Sư làm địa điểm cho ca quán.
Không gian khá nhỏ, chỉ vài chục mét vuông và đủ chỗ tối đa cho ba chục người. Huệ cười: không gian nhỏ này hóa ra lại rất phù hợp với ca trù. Nhất là khi chị muốn giới thiệu với người nghe thứ ca trù "mộc", không hề được khuếch trương qua giàn âm ly như những phòng trà hiện đại.
Nhỏ gọn, nội thất ấm cúng, ca quán này không có sự bó buộc theo lề lối riêng của ca trù mà hướng nhiều hơn tới một không khí gia đình gắn bó, thân mật. Nếu thích, khách tới nghe ca trù có thể giao lưu, trò chuyện với đào nương hoặc thậm chí thử học cầm trống chầu...
Muốn giữ lại chút tinh hoa của món nghệ thuật "một thời vang bóng", muốn có chỗ thưởng thức ca trù cho khách tri âm, đó là điều mà cô đào nương Phạm Thị Huệ cùng các nghệ nhân Chúc, Đẹ tâm niệm khi bắt tay mở ca quán.
Trước ca quán của họ, Hà Nội từ lâu cũng manh nha có một số CLB ca trù khác nhưng không duy trì được lâu. Bởi đơn giản, đã một thời gian rất dài, ca trù trượt dần vào quên lãng với quan niệm sai lầm rằng đó là tàn tích của lối sống xa hoa, trụy lạc từ thời Pháp thuộc.
Mở ca quán để thỏa lòng yêu với ca trù, công sức của Huệ và các nghệ nhân sẽ còn phải bỏ ra nhiều lắm...

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận