
Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT 2026 thi tại điểm thi Trường THPT Nguyễn An Ninh, phường Vườn Lài, TP.HCM - Ảnh: NHƯ HÙNG
Nhưng tách thành hai kỳ thi quốc gia cũng chưa chắc là lời giải. Điều cần làm trước hết là xác định rõ kỳ thi tốt nghiệp THPT có vai trò gì trong bối cảnh các trường đại học đã được pháp luật trao quyền tự chủ tuyển sinh.
Mỗi mùa thi, câu hỏi quen thuộc lại được đặt ra: có nên tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học? Người ủng hộ tách cho rằng một kỳ thi không thể đồng thời phục vụ tốt hai mục tiêu khác nhau. Người muốn giữ lại lo ngại thêm một kỳ thi quốc gia sẽ làm tăng chi phí, áp lực và bất bình đẳng đối với học sinh, nhất là những em ở vùng khó khăn. Cả hai lập luận đều có cơ sở.
Chức năng của kỳ thi
Tôi từng nghiêng về phương án tách kỳ thi. Nhưng càng theo dõi quá trình đổi mới tuyển sinh, tôi càng nhận ra vấn đề không nằm ở việc có một hay hai kỳ thi, mà ở việc xác định đúng vai trò của kỳ thi tốt nghiệp THPT, quyền tự chủ của các trường đại học và trách nhiệm quản lý của Nhà nước. Khi ba vấn đề này chưa được phân định rõ, tách hay giữ cũng chỉ lặp lại những tranh luận cũ.
Thực tế, vai trò của kỳ thi đã thay đổi nhiều lần trong mười năm qua. Giai đoạn 2016-2019, kỳ thi THPT quốc gia vừa xét công nhận tốt nghiệp vừa làm căn cứ tuyển sinh đại học. Sau vụ gian lận điểm thi năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh tỉ trọng điểm thi lên 70%, giảm học bạ xuống 30% nhằm tăng độ tin cậy của kết quả.
Đến năm 2020, khi Luật Giáo dục năm 2019 có hiệu lực, kỳ thi được xác định lại là kỳ thi tốt nghiệp THPT, trọng tâm chuyển sang đánh giá kết quả giáo dục phổ thông.
Từ năm 2025, kỳ thi chỉ còn bốn môn, điểm xét tốt nghiệp được tính theo tỉ lệ 50% điểm thi và 50% học bạ. Năm 2026 là năm thứ hai áp dụng mô hình này với khoảng 1,22 triệu thí sinh đăng ký dự thi.
Tỉ lệ tốt nghiệp toàn quốc cũng thay đổi rất rõ, từ 92,93% năm 2016 lên trên 99% từ năm 2024. Có người cho rằng đề thi quá dễ nên kỳ thi không còn ý nghĩa sàng lọc. Người khác lại cho rằng sau 12 năm học, việc đa số học sinh tốt nghiệp là điều bình thường. Thực ra cả hai cách nhìn đều đúng một phần.
Kỳ thi hiện nay gần như không còn nhằm loại học sinh khỏi hệ thống giáo dục phổ thông. Theo quy chế hiện hành, chức năng chính của kỳ thi là xác nhận người học đạt chuẩn tốt nghiệp, đồng thời cung cấp dữ liệu để đánh giá chất lượng giáo dục và hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học trong tuyển sinh.
Vì vậy câu hỏi quan trọng không phải là vì sao tỉ lệ đậu cao, mà là kết quả kỳ thi đang được sử dụng để quyết định điều gì và mức độ tin cậy của nó có tương xứng với quyết định đó hay không.
Ở đây xuất hiện một mâu thuẫn rất khó tránh. Cùng một kết quả thi đang được dùng cho hai mục tiêu hoàn toàn khác nhau. Đối với tốt nghiệp, chỉ cần xác định học sinh đạt hay chưa đạt chuẩn đầu ra. Nhưng tuyển sinh đại học lại đòi hỏi một phổ điểm đủ sắc để phân loại những thí sinh chỉ chênh nhau vài phần mười điểm.
Nếu đề thi bám sát mục tiêu tốt nghiệp thì khả năng phân hóa sẽ hạn chế; ngược lại, nếu tăng độ khó để phục vụ tuyển sinh thì phần lớn học sinh chỉ cần tốt nghiệp sẽ phải chịu áp lực không cần thiết. Đó là mâu thuẫn vốn có của mọi kỳ thi "hai trong một".
Vì vậy việc tách hai mục tiêu đánh giá là hợp lý. Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa phải tổ chức thêm một kỳ thi tuyển sinh đại học thống nhất trên phạm vi cả nước. Nếu tất cả các trường buộc phải sử dụng chung một kỳ thi thì quyền tự chủ tuyển sinh chỉ còn hình thức.
Ngược lại, nếu mỗi trường tổ chức một kỳ thi riêng thì học sinh sẽ phải chạy nhiều nơi, phát sinh thêm chi phí và tạo bất lợi cho những em có điều kiện kinh tế khó khăn.
Nghị quyết số 71 ngày 22-8-2025 của Bộ Chính trị đã định hướng rất rõ: tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục nhưng gắn với trách nhiệm giải trình và đổi mới tuyển sinh theo hướng đánh giá đúng năng lực người học.
Theo tinh thần đó, điều cần xây dựng không phải là nhiều kỳ thi hơn mà là một hệ thống khảo thí đa dạng, trong đó các trường có nhiều công cụ đánh giá đã được chuẩn hóa để lựa chọn.
Dĩ nhiên, giữ nguyên mô hình hiện nay cũng chưa thể xem là lời giải hoàn chỉnh. Hai năm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới là khoảng thời gian quá ngắn để khẳng định cấu trúc kỳ thi đã tối ưu. Việc tăng tỉ trọng học bạ lên 50% phù hợp với định hướng coi trọng quá trình học tập, nhưng khi chất lượng đánh giá giữa các trường còn chênh lệch thì học bạ càng được sử dụng nhiều càng phải được chuẩn hóa. Nếu không, rất dễ phát sinh tình trạng chạy theo điểm số thay vì nâng cao chất lượng dạy và học.
Cũng cần nhìn nhận đúng khái niệm tự chủ tuyển sinh. Tự chủ không có nghĩa mỗi trường phải tổ chức một kỳ thi riêng để khẳng định mình tự chủ. Nhà nước vẫn quản lý bằng chuẩn đầu ra, kiểm định chất lượng, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Các trường được quyền lựa chọn phương thức tuyển sinh, nhưng phải chứng minh phương thức đó phù hợp với mục tiêu đào tạo và mang lại hiệu quả thực tế.
Cần một hệ thống khảo thí hoàn chỉnh
Theo tôi, điều giáo dục Việt Nam còn thiếu là một hệ thống khảo thí hoàn chỉnh. Trong hệ thống đó, kỳ thi tốt nghiệp THPT do Nhà nước tổ chức sẽ tập trung thực hiện đúng chức năng là công nhận tốt nghiệp, giám sát chất lượng giáo dục phổ thông và cung cấp một nguồn dữ liệu cho tuyển sinh.
Song song với đó là các bài đánh giá chuẩn hóa như đánh giá năng lực, đánh giá tư duy hoặc các chứng chỉ quốc tế được chuẩn hóa và công nhận rộng rãi giữa các trường đại học. Đối với những ngành đào tạo đặc thù, các trường vẫn có thể tổ chức các bài kiểm tra riêng về năng khiếu hoặc năng lực chuyên biệt.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT 2026 tại Hà Nội - Ảnh: PHÚC TÀI
Muốn thiết kế một kỳ thi tốt, trước hết phải xác định rõ cần đo điều gì. Sau 12 năm học phổ thông, học sinh phải đạt được những năng lực cốt lõi nào? Khi mục tiêu đánh giá chưa được xác định rõ, kỳ thi rất dễ đo những gì thuận tiện để ra đề thay vì đo những năng lực mà xã hội thực sự cần.
Cũng không nên kỳ vọng một kỳ thi có thể thay thế toàn bộ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục. Điểm thi hay tỉ lệ tốt nghiệp chỉ phản ánh một phần bức tranh. Muốn đánh giá đúng chất lượng giáo dục cần kết hợp nhiều nguồn dữ liệu như kết quả thi, đánh giá diện rộng, điều kiện dạy học, tỉ lệ bỏ học, kết quả kiểm định và hiệu quả học tập sau tuyển sinh.
Từ ngày 1-1-2026, Luật số 123/2025/QH15 giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp THPT. Đây là bước chuyển về phân cấp quản lý chứ không phải giảm vai trò quản lý của Nhà nước. Chuẩn đầu ra, quy chế thi, dữ liệu văn bằng, thanh tra và kiểm định vẫn phải được quản lý thống nhất trên phạm vi cả nước.
Nếu đi theo hướng đó, quá trình đổi mới có thể triển khai theo ba giai đoạn. Từ nay đến năm 2030, trọng tâm là ổn định kỳ thi tốt nghiệp THPT, hoàn thiện ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa và xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia cho các bài đánh giá năng lực.
Giai đoạn 2030-2035 sẽ hình thành hệ thống khảo thí chuẩn hóa với cơ chế kiểm định độc lập, mở rộng công nhận kết quả giữa các trường và xây dựng cơ sở dữ liệu đánh giá hiệu quả từng phương thức tuyển sinh.
Sau năm 2035, có thể hướng tới một hệ sinh thái khảo thí mở, trong đó nhiều tổ chức khảo thí đạt chuẩn cùng hoạt động, các trường đại học lựa chọn công cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu đào tạo, còn người học chỉ cần một kết quả đánh giá để đăng ký vào nhiều cơ sở giáo dục đại học.
Trong mô hình đó, Nhà nước tập trung xây dựng chuẩn, kiểm định, quản lý dữ liệu và giám sát trách nhiệm giải trình; trường phổ thông chịu trách nhiệm về chất lượng dạy học; tổ chức khảo thí chịu trách nhiệm về chất lượng bài đánh giá; còn trường đại học chịu trách nhiệm về quyết định tuyển sinh của mình.
Có lẽ đã đến lúc không chỉ hỏi có nên tách kỳ thi tốt nghiệp THPT hay không? Điều quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống khảo thí mà ở đó mỗi công cụ thực hiện đúng chức năng, mỗi chủ thể chịu đúng trách nhiệm và mọi quyết định đều dựa trên dữ liệu.
Một kỳ thi không cần gánh cả hệ thống giáo dục; điều cần gánh là trách nhiệm của từng chủ thể trong hệ thống ấy.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận