22/11/2004 22:07 GMT+7

Đi và ở

Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ
Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ

TT - Từ giữa tháng 8-1954, chiến trường đã im tiếng súng khi lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Genève quy định đã có hiệu lực. Thật là tuyệt diệu kỷ luật tự giác của những người cách mạng.

qzUAldN3.jpgPhóng to
Liên hoan văn nghệ giữa cán bộ và nhân dân trước khi tập kết - Ảnh tư liệu
TT - Từ giữa tháng 8-1954, chiến trường đã im tiếng súng khi lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Genève quy định đã có hiệu lực. Thật là tuyệt diệu kỷ luật tự giác của những người cách mạng.

Hòa bình chưa kịp đến

Khắp rừng sâu, bưng lầy hẻo lánh, khắp làng mạc phố phường, từng chiến sĩ du kích, từng đơn vị vũ trang lớn, nhỏ đang thừa thắng xông lên diệt địch, khí thế bừng bừng sông núi, tiếng kèn xung trận vang lừng; có đêm hạ hàng tá đồn bót giặc, có ngày diệt và rã 2-3 tiểu đoàn địch; vùng giải phóng mở rộng thênh thang, cờ đỏ sao vàng Việt Minh tung bay tứ phía; nhân dân vui mừng nô nức đi dân công tiếp tế, các má, các chị đi ủy lạo bộ đội và săn sóc thương binh; quân địch thì khiếp vía kinh hồn, bị diệt ít mà chạy và rã nhiều.

Nhưng đúng ngày giờ qui định ngừng bắn thì chiến trận mọi nơi ngừng hẳn. Bầu trời bỗng nhiên êm ả lạ lùng. Người trong cuộc như vừa tỉnh một giấc mơ, như ngỡ ngàng trước cảnh thanh bình vụt đến khiến ta chưa kịp nghĩ rồi đây cuộc sống sẽ thế nào, trong lúc tâm tư người chiến sĩ còn đang hướng tới những chiến thắng đang chờ họ.

Không, sao lại ngừng tấn công nhỉ? Ta đang thắng lợi kia mà? Sức ta còn đủ để nỗ lực thừa thắng xông lên giải phóng hoàn toàn Tổ quốc thân yêu. Thời cơ này hết sức thuận lợi sao ta không nắm lấy mà ngừng lại nửa chừng? Và vì sao lại vĩ tuyến 17 mà không 13 hay ít hơn 16? Mừng vui thật sự vì hòa bình đang đến. Đất nước rồi đây độc lập, dân ta tự do xây dựng hạnh phúc lâu dài.

Nhưng ấm ức trong lòng rằng ta bị thiệt thòi, kết quả đạt được của Hiệp định Genève chưa tương xứng với thắng lợi của ta! Nhưng niềm tin tưởng to lớn vào Đảng, Bác Hồ đã giúp chúng tôi tự giải đáp. Chẳng qua ta chưa hiểu hết ngọn nguồn, phải đâu chỉ có chiến trường ta mà còn tình hình cả nước và tình hình quốc tế vô cùng phức tạp nữa chứ.

Thế là những ngày tháng tám còn lại rộn rịp hành quân từ mọi ngả tập trung về các khu được hiệp định qui định để rồi tập kết ra miền Bắc. Nam bộ vào thời kỳ cuối cuộc chiến tranh chống Pháp ta chia làm hai phân liên khu: miền Đông và miền Tây.

Các đồng chí trong Đảng ủy và Bộ tư lệnh phân liên khu miền Đông Nam bộ được Trung ương và Trung ương Cục chỉ định mỗi người phụ trách một công việc: anh Phạm Hùng - ủy viên Trung ương Đảng, bí thư, chính ủy phân liên khu miền Đông, người nhiều tuổi nhất trong chúng tôi, cùng anh Nguyễn Văn Vịnh - phó tư lệnh, đảm nhận trưởng và phó tiểu ban liên hợp lãnh thổ phía nam đóng ở Phụng Hiệp (Cần Thơ), sau dời về Sài Gòn - Gia Định. Anh Hoàng Dư Khương (Hoàng Xang), phó bí thư Đảng ủy, lãnh đạo các bộ phận ở lại và phong trào quần chúng đấu tranh thi hành hiệp định.

Còn tôi, tư lệnh, phụ trách tổ chức và chỉ huy các lực lượng vũ trang tập kết ra miền Bắc. Chúng tôi chia tay nhau hết sức cảm động tại khu rừng căn cứ Dương Minh Châu phía bắc Tây Ninh. Không phải cảnh mưa dầm lê thê cuối mùa trong những ngày ấy làm nẫu lòng người mà chính lòng người, tình đồng chí thân yêu, vui buồn lẫn lộn trong cảnh chia tay bắt buộc đã khiến cảnh trời có phần u ám.

Hôm nay chia tay để ngày mai gặp lại trong cảnh huy hoàng của Tổ quốc thân yêu, chỉ có lòng tin sắt đá ấy mới gạt mọi ưu tư.

Nỗi lòng kẻ ở người đi...

Theo tư liệu của Sở Văn hóa - thông tin Cà Mau, Hiệp định Genève quy định ở miền Bắc có các vùng tập kết của quân đội Pháp: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng, Kiến An, Hồng Quảng (300 ngày). Ở miền Nam, các vùng tập kết của ta là: Hàm Tân, Xuyên Mộc (80 ngày), Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày), Quảng Ngãi, Bình Định (300 ngày).

Mới hôm qua vừa ngừng tiếng súng anh đã mơ về xóm ấp quê hương. Người VN nào lại không gắn bó tình cảm của mình với bà con làng mạc, một mảnh cụ thể của Tổ quốc bao la, vì tình cảm ấy mà quyết tâm ra đi chiến đấu đến thắng lợi mới trở về.

Thế mà nay thắng lợi rồi thì được lệnh chuyển quân tập kết về miền Bắc xa xôi, cách trở cả nghìn cây số. Đành rằng miền Bắc, miền Nam vẫn là Tổ quốc của ta, vì Tổ quốc thống nhất ấy mà ta sẵn sàng hy sinh cả tính mạng.

Nhưng bụi trúc, bờ tre, con kênh, cụm chuối, mẹ già, vợ trẻ, cô bác bên nhà, em trai, cháu gái vẫn là hình ảnh sao mà thân thương, sao mà bịn rịn.

Đi hay ở? Lòng anh chiến sĩ thật bâng khuâng xao xuyến. Có đêm nào trong những đêm đang chiến đấu mà nằm trăn trở suốt năm canh vì chuyện ở hay đi như những đêm này. Đi hay ở?

Biết bao gia đình chia năm xẻ bảy. Những chuyện như vậy là phổ biến. Không phải chỉ phổ biến với những người miền Nam tập kết mà có lẽ cả với những người miền Bắc bị dụ dỗ và lừa gạt vào Nam. Và vì vậy mà “hai năm” đã trở thành nỗi mong chờ của hàng triệu trái tim VN thời ấy.

Cấp trên đã phổ biến cặn kẽ kế hoạch ai đi, ai ở. Đi hay ở không còn chỉ có cái nghĩa thông thường là ở lại và ra đi. Nó là nhiệm vụ thiêng liêng được giao cho mỗi cán bộ, chiến sĩ.

Ta đã ký Hiệp định Genève, ta làm đúng theo quy định: bộ đội chiến đấu phải đi tập kết, người kháng chiến khác ở lại sống như dân thường dù người ấy là đảng viên hay đoàn viên nông hội. Ta sẽ gặp lại sum vầy sau hai năm, sau tổng tuyển cử. Gần chín năm trời xa nhà đi chiến đấu còn được thì hai năm đâu có sá gì.

Thế là khắp các làng xã thuộc huyện Cao Lãnh, nhà cửa dọc các sông rạch từ Mỹ An, Ba Sao ra Hòa An, Cao Lãnh, từ Phong Mỹ về An Bình, Mỹ Tho, đâu đâu cũng có “bộ đội của mình” đóng. Và nữa, có phải chỉ có bộ đội hành quân tập kết đâu.

Đồng bào từ khắp chốn, từ những làng mạc xa xôi, từ các thị xã, thị trấn, cả ở Sài Gòn xuống và Cần Thơ lên cùng kéo về Đồng Tháp Mười, về Cao Lãnh hoặc Cà Mau để tìm đứa con, người em, người cháu đã ra đi từ ngày nào và giờ đây lại sắp đi xa. Còn các má chiến sĩ nữa, các má cũng đổ về Đồng Tháp Mười để tiễn đưa các con bộ đội đi ra thủ đô, đi gặp Cụ Hồ.

Các má còn gửi cho con đưa ra dâng Bác Hồ, Trung ương Đảng “nắm đất miền Nam”. Đất này là mồ hôi nước mắt của bao đời ông cha khai phá, là máu xương của nhiều lớp chiến sĩ quyết tâm bảo vệ đến cùng.

Cảm động nhất, gắn bó nhất là đám cưới tập thể diễn ra ngay tại Cao Lãnh trong ngày tháng mười năm ấy. Những cô gái quê hương Gò Công, nơi “đám lá tối trời” của Trương Định, đã được các má dẫn lên tận nơi tập trung quân của tiểu đoàn 309 để làm lễ cưới cùng các chiến sĩ của tiểu đoàn, trước khi các con đi tập kết.

“Các con liệu mà trọn niềm chung thủy, sau hai năm về đây các má sẽ giao lại tụi nó vẹn toàn”, các má đã bảo đảm như vậy. Cán bộ chiến sĩ trước khi về Bắc cũng muốn lưu lại cái gì đối với địa phương thân yêu: sửa lại ngôi nhà cho đồng bào, dựng một mái trường cho các em nhỏ, bắc cầu, sửa đường... nghĩa là cái gì đó có ích cho dân là làm.

Và cũng không thể quên những đồng đội đã ngã xuống giờ đây hẳn cũng mỉm cười nơi chín suối. Họ cố xây nên một đài liệt sĩ “Tổ quốc ghi công” để nhớ ơn người đã hi sinh vì nghĩa cả. Nghĩ đến Bác Hồ vĩ đại, họ đã ra công xây lại ngôi mộ của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy, người đã sinh ra một anh hùng dân tộc cho đất nước đứng lên.

Tôi đi chuyến tàu chót ở bến Cao Lãnh thuộc khu 100 ngày Đồng Tháp Mười, đúng ngày cuối cùng của tháng mười, như qui định của hiệp định. Mọi người xuống chiếc tàu đổ bộ của Pháp, tàu LCM há mồm, để ra Vũng Tàu, tại đây chuyển sang tàu Kilinxki của nước bạn Ba Lan đợi sẵn.

Chiếc LCM rời bến Cao Lãnh về chiều. Trên bờ, trên bến đông nghẹt những người, những câu từ giã gào lên từ bốn phía. Muôn ngàn cánh tay giơ lên chìa ra hai ngón, hai ngón từ trên bờ, hai ngón từ dưới tàu, tất cả cùng cảm thông sâu sắc, và những chiếc khăn rằn vẫy theo cho đến khi không còn thấy nữa.

Bờ biển Vũng Tàu đã nối liền với bãi Sầm Sơn qua biển Đông dậy sóng. Con đường đã đưa ta ra miền Bắc hôm nay, mai sau có đưa ta trở lại miền Nam?

Ngày 1-12-1954 Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ phát buổi cuối cùng. Người đọc lời tạm biệt bạn nghe đài là ông Huỳnh Văn Tiểng. Ông Tiểng năm nay 84 tuổi, 50 năm đã trôi qua nhưng trong ký ức ông những ngày tháng cũ vẫn mãi là những ngày sống động, vẫn nguyên vẹn nụ cười và nước mắt...

----------------------

* Kỳ tới: Thời gian đệm - nhìn từ khoảng sâu ký ức

Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất