Phóng to |
| Hàng triệu nạn nhân sóng thần châu Á đang sống dựa vào lòng hảo tâm của cộng đồng thế giới |
Trung tuần tháng 1-2005, viện trợ quốc tế cho nạn nhân sóng thần châu Á đã hơn 5 tỉ USD. Đằng sau tấm áo từ thiện của vài nước đã lộ ra một số chi tiết gần như chẳng ăn nhập gì đến sự thể hiện tấm lòng nhân ái...
Viện trợ "bắt chẹt"
Viện trợ sóng thần châu Á đã trở thành cơ hội đối với một số nước giàu. Satish Mishra, viên chức Liên Hiệp Quốc phụ trách chiến dịch cứu trợ Indonesia, nói để ám chỉ vấn đề chính trị ly khai Aceh: "Có rất nhiều vấn đề được kèm theo: chính trị ly khai, tôn giáo, một chính phủ mới ở Jakarta".
"Và liệu điều này có giúp những ngư phủ khốn khổ như Nathan Minear hay không? Tôi cho rằng họ (nạn nhân sóng thần tại Indonesia) đang bước vào bãi mìn chính trị" - Sidney Jones, giám đốc đặc trách Đông Nam Á thuộc Tổ chức Nhóm khủng hoảng quốc tế trụ sở tại Brussels (dẫn lại từ Newsweek 17-1-2005), nhận xét thêm.
Aceh được quan tâm bởi nó nằm dọc eo biển Malacca, một hải trình quan trọng mà Washington lo sợ lọt vào tầm kiểm soát khủng bố. Viện trợ ràng buộc thật ra là một "hành xử ngoại giao" phổ biến trong hai thập niên qua. Theo khảo sát của Liên Hiệp Quốc, 84 xu trong mỗi đôla viện trợ Mỹ đã tìm đường "qui hồi cố quốc" ở dạng hàng hóa và dịch vụ được cung cấp cho nước nhận viện trợ. 75% viện trợ Canada đều thuộc loại viện trợ ràng buộc; và Đức, Pháp, Úc... cũng đều đặt một lô điều kiện trước khi xuất tiền viện trợ, chủ yếu là họ được lãnh thầu xây dựng cơ sở hạ tầng (viễn thông, giao thông, an ninh...) hoặc cung cấp hàng hóa - thực phẩm - thuốc men (World Socialist 11-1-2005).
Thượng tuần tháng 1-2005, Thủ tướng Úc John Howard ra điều kiện: 1 tỉ đôla Úc chỉ đến Indonesia nếu nó không đi qua kênh quản lý của Liên Hiệp Quốc cũng như các tổ chức từ thiện quốc tế khác. Bởi lẽ trong thực tế, theo World Socialist, 1,8 tỉ USD/năm viện trợ nước ngoài của Úc đều được phân phối qua một nhóm công ty tư nhân. Công ty GRN International của Kerry Packer (người giàu nhất Úc) là nơi trực tiếp chuyển 200 triệu USD/năm cho các dự án viện trợ hải ngoại của Chính phủ Úc. Đạo luật cơ hội và phát triển châu Phi (AGOA) của Washington là một ví dụ khác.
Được Quốc hội Mỹ tung ra tháng 5-2000, AGOA nhấn mạnh rằng các quốc gia lục địa đen muốn nhận viện trợ Mỹ phải tuân thủ điều kiện "điều chỉnh cấu trúc" của Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF). Cụ thể, thị trường Mỹ chỉ mở cửa hoàn toàn cho hàng dệt châu Phi nếu các nhà sản xuất châu Phi mua nguyên liệu từ Mỹ. Ví dụ khác nữa liên quan đến viện trợ ràng buộc là chương trình hỗ trợ nạn nhân AIDS châu Phi. Để được viện trợ, châu Phi phải mua thuốc AIDS từ Mỹ trong khi thuốc Mỹ đắt hơn 15.000 USD/năm so với 350 USD thuốc mua từ Nam Phi hoặc Ấn Độ.
Sau sự kiện khủng bố 11-9-2001, viện trợ Mỹ còn dính luôn ràng buộc về quân sự. Các nước nhận viện trợ (Pakistan chẳng hạn) phải chấp nhận để Mỹ mở căn cứ quân sự, tất nhiên cho "cuộc chiến chống khủng bố". Ngoài ra, một trong những hình thức "đưa tay này lấy lại bằng tay kia" nữa là "chính sách hỗ trợ kỹ thuật" - tức buộc nước nhận viện trợ phải thuê cố vấn kinh tế - tài chính từ nước cấp viện trợ. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, "hỗ trợ kỹ thuật" đã ngốn 14 tỉ USD/năm, tức khoảng 1/4 tổng viện trợ phát triển hằng năm mà một số ít "lá lành" dành cho một số nhiều "lá rách"!
Viện trợ "có chọn lọc"
Phóng to |
| USAID làm từ thiện “có chọn lọc” |
Với các quốc gia khốn đốn cần viện trợ, tránh vỏ dưa lại cũng gặp vỏ dừa. Từ năm 1995 đến 2000, có trung bình 41 điều kiện đã được IMF kèm theo khi cho nước nghèo vay tiền, từ việc thay đổi lãi suất, giá hàng hóa, chính sách tư nhân hóa đến hệ thống phúc lợi xã hội. Tính đến trước năm 1999, tiền vay IMF cho các nước hạ Sahara đã kèm theo trung bình 114 điều kiện.
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz (làm việc tại Ngân hàng Thế giới từ 1996 đến tháng 11-1999) từng nói rằng chính sách của Washington cũng như của các ngân hàng quốc tế trong vấn đề viện trợ nhân đạo hoặc cho vay chẳng khác gì "dùng súng phun lửa để cạo lớp sơn cũ của căn nhà và sau đó than van rằng bạn không thể quét sơn mới bởi ngôi nhà đã bị cháy thành tro!".
Viện trợ Indonesia trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1997-1998 trong thực tế đã làm nước này nghèo hơn. Để thỏa mãn điều kiện IMF, Indonesia đồng ý tư nhân hóa một số lĩnh vực, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng quốc gia, giảm chi tiêu xã hội, bỏ chính sách bao cấp giá xăng - điện và thực phẩm... Kết quả: số người nghèo Indonesia tăng gấp đôi (lên 100 triệu người) và lương giảm 30% trong cùng giai đoạn. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2002, Indonesia là nước duy nhất chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997 hiện hoạt động kinh tế tiếp tục "nằm dưới mức như giai đoạn tiền khủng hoảng một cách nghiêm trọng, trong đó hơn 1/2 dân số sống với thu nhập chưa đến 2 USD/ngày"...
Theo báo cáo Paying the Price được Tổ chức từ thiện Anh Oxfam tung ra vào tháng 12-2004, ngân sách viện trợ của 20 quốc gia viện trợ hàng đầu thế giới thật ra chỉ bằng 1/2 so với năm 1960. Trung bình nhóm G7 (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Mỹ) phân phối vỏn vẹn 0,19% trong tổng thu nhập quốc gia GNI cho viện trợ quốc tế (World Socialist).
Tổng viện trợ nước ngoài từ các quốc gia giàu nhất thế giới hiện chỉ khoảng 55 tỉ USD/năm, ít hơn nhiều so với chi tiêu quân sự. Ngân sách quân sự Anh nhiều gấp 8 lần ngân sách viện trợ nước ngoài (Pháp 9 lần, Ý 15 lần và Mỹ 33 lần). Ngân sách quốc phòng Mỹ 2003 là hơn 400 tỉ USD, chiếm 3,6% GNI, trong khi viện trợ nước ngoài chỉ 0,14% GNI (tức chỉ bằng 1/9 trong khoản 148 tỉ USD cho chi tiêu cuộc chiến Iraq 2003).
Và trong hầu hết trường hợp, Mỹ chỉ cấp tiền viện trợ cho mục đích chính trị hơn là thuần túy nhân đạo. Kế hoạch chiến lược 2004-2009 được soạn từ Bộ Ngoại giao Mỹ và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã nhấn mạnh rằng an ninh là mục tiêu chính cho viện trợ hải ngoại của Mỹ (theo Tom Barry, giám đốc chính sách thuộc Trung tâm Quan hệ quốc tế, Washington DC; trong bài viết trên Asia Times 12-1-2005). Bản kế hoạch hướng đến việc "gài" chính sách đối ngoại vào viện trợ hải ngoại.
Trong thực tế, ý tưởng này thật ra không mới. Thời chiến tranh lạnh, Mỹ từng chi đậm cho kế hoạch Marshall viện trợ châu Âu để lôi kéo đồng minh khỏi ảnh hưởng Liên Xô. Khi Liên Xô tan rã, viện trợ Mỹ cho châu Âu bắt đầu bị cắt dần. Hiện thời, những nước nhận viện trợ Mỹ nhiều nhất đều nằm trong khu vực chiến tuyến nhạy cảm liên quan chủ đề chống khủng bố. Trong báo cáo "US foreign aid: meeting the challenges of the 21st century" tung ra tháng 1-2004 được soạn bởi nhóm chính khách diều hâu, kế hoạch viện trợ hải ngoại Mỹ trong tương lai gần sẽ nằm ở hai hạng mục chính: "Tương ứng với chính sách an ninh quốc gia Hoa Kỳ" và "Tính hiệu quả cao hơn của viện trợ".
Sự "tương ứng" ở đây ám chỉ đến "tính chọn lọc" trong viện trợ, chẳng hạn Ba Lan (đồng minh trong cuộc chiến Iraq), Indonesia (đối tác quan trọng trong cộng đồng Hồi giáo) hoặc Pakistan (đồng minh chiến lược trong chống khủng bố; viện trợ Mỹ cho nước này đã tăng từ 1,7 triệu USD năm 2001 lên 275 triệu USD năm 2004). Các quốc gia hợp tác với Mỹ trong lĩnh vực an ninh cũng được nhận "củ cà rốt" và những nước không nằm trong phạm vi chiến lược đối ngoại - cho dù nghèo tận cùng hoặc đối mặt khủng hoảng chính trị như thế nào - cũng chỉ được trợ cấp chiếu lệ (Sudan hoặc Congo).
Một thái độ của người tự trọng
Không phải tự nhiên mà một số nước nạn nhân sóng thần châu Á đã thẳng thắn từ chối nhận viện trợ nước ngoài (trong đó có Thái Lan). Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh phát biểu: "Cho đến giờ phút này, chúng tôi tin rằng mình có đủ nguồn lực tài chính để đối mặt thách thức khắc phục hậu quả sóng thần. Nếu hoặc khi nào cần giúp, chúng tôi sẽ báo quí vị biết". Xét ở tỉ lệ thu nhập bình quân đầu người, Ấn Độ là nước nghèo nhưng Thủ tướng Manmohan Singh vẫn tự tin. Điều này không chỉ vì lòng tự trọng.
Kinh tế tư nhân Ấn Độ (đặc biệt công nghiệp phần mềm) ngày càng giàu và lực lượng này có thể giúp chính phủ vượt qua di họa sóng thần. "Có một sự tự tin, một cảm giác ngẩng cao đầu ngồi chiếu trên. Đã qua rồi thời mà Ấn Độ lệ thuộc trợ giúp Mỹ hoặc phương Tây" - nhận xét của nhà phân tích chính trị Ấn Độ Rahul Bedi (Christian Science Monitor 6-1-2005).


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận