Thứ 5, ngày 2 tháng 12 năm 2021

Cần phát huy vai trò thương lái

16/03/2010 16:01 GMT+7

Cắc cớ lần giở Từ điển Việt Nam, Từ điển Bách khoa tiếng Việt, không hề thấy từ “thương lái”, trong từ điển nguồn mở Wikipedia cũng không thấy. Vậy nên mới hỏi rằng “Thương lái, ông là ai?”.

Ngày xưa, theo cách sắp xếp bốn nghề chính trong xã hội (sĩ, nông, công, thương) của Trung Hoa, thì thương nghiệp đứng hạng… bét. Dân gian nước ta thì thực tế hơn, dù vẫn coi trọng kẻ sĩ, nhưng cũng đúc kết “hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”, chứng tỏ phải “có thực mới vực được đạo”.

Nhưng vậy cũng chưa là gì với người Hoa ở nước ta, bởi với họ, “thương” phải đứng vào hàng số 1. Lý do là họ không được làm quan văn, không được tham gia quân đội, thậm chí không được làm một số nghề thuộc công nghiệp (tùy triều đại), nên họ phải chuyên về làm nông và buôn bán.

Cũng chính vì vậy mà người Hoa rất giỏi trong lĩnh vực thương mại ở khắp mọi nơi trên thế giới khi họ là “khách trú”, chứ không riêng gì tại nước ta. Họ làm giàu nhanh do vẫn còn nhiều người chê nghề buôn bán. Nhưng bên cạnh các bậc sĩ phu xưa (sĩ phu thật và… học đòi) tỏ ý khinh thường họ (dù họ có là quan phụ trách thương nghiệp), đa số dân gian vẫn ghi nhận đóng góp của họ, vẫn nhắc nhở nhau câu “phi thương bất phú”, mặc cho ai muốn gọi là con buôn, thương lái hay gì gì khác nữa.

QPU8WHxp.jpgPhóng to
Những người hàng xáo chở lúa gạo mua bán trên sông đã trở thành một hình ảnh quen thuộc ở đồng bằng sông Cửu Long

Trong thời kỳ bao cấp, quốc sách cải tạo công thương nghiệp đã triệt tiêu toàn bộ con buôn, thương lái tư nhân (tư thương), chỉ có thương lái quốc doanh là được hoạt động một mình một chợ. Các công ty thương nghiệp, cửa hàng nhà nước mọc ra như nấm sau mưa ở khắp nước, từ trung ương đến địa phương, từ đô thị đến nông thôn, của đủ mọi ban ngành đoàn thể, phục vụ cho mọi thành phần, tuổi tác, nhưng chẳng ai dám gọi họ là thương lái, vì họ là… quan phụ trách thương nghiệp, muốn mua thì mua, muốn bán thì bán, không muốn thì… thôi.

Sự hoành hành, tự tung tự tác của các quan này có lẽ không cần kể lại, mà cần xếp lại, coi như một ký ức và là một trang “đọc không vui” trong lịch sử thương nghiệp Việt Nam. May mắn là chúng ta đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn ấy.

Ở đời, cái gì đúng, phù hợp thì tồn tại lâu dài (thuận thiên dã tồn). Trong nền kinh tế thị trường, dù là sơ khai, có cầu tất có cung. Tại đồng bằng sông Cửu Long, từ lâu đã hình thành, tồn tại và phát triển các chành, vựa, lái, hàng xáo, hoạt động kinh doanh mọi sản phẩm nông lâm ngư nghiệp và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Đó chính là thương lái!

Thí dụ chành gạo, vựa nước mắm, lái lúa, hàng xáo gạo... Ngày nay, chành đã bị biến mất (nhưng được hồi sinh với tên khác và cách tổ chức khác), nhưng các tên vựa, lái, hàng xáo vẫn tồn tại, do chúng nó còn… quá cần thiết trong lưu thông hàng hóa. Không có chúng, có lẽ cũng không có nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay.

Thật là thân thương khi đến chợ Mỹ Đức Tây (Tiền Giang) thấy có bảng hiệu vựa trái cây, chợ Vàm Láng (Tiền Giang) có bảng hiệu vựa cá, chợ Sa Đéc (Đồng Tháp) thấy có bảng hiệu vựa gạo, vựa đậu, vựa mè; đến Cái Mơn (Bến Tre), Tân Quy Đông (Đồng Tháp) nghe có tên lái hoa, đến Long Phú (Sóc Trăng), Phụng Hiệp (Hậu Giang) có lái mía; đến Ô Môn (Cần Thơ) có lái bánh ngọt; đến Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang) thấy các lái trâu bò hoạt động náo nhiệt (chưa kể bây giờ còn có lái thuốc Nam); ra đến Lạng Sơn, Lào Cai vẫn còn thấy lái trái cây Nam bộ.

Còn lái lúa, hàng xáo thì nơi nào cũng có. Không có họ thì không biết nông ngư dân bán hàng ở đâu, và không biết các tổng công ty, công ty nhà nước làm sao có nguyên liệu, hàng hóa để chế biến và xuất khẩu. Thực ra, các “công đại thương lái” này cũng có mua trực tiếp nông ngư sản của nông ngư dân, nhưng với những điều kiện cực kỳ khó khăn (kể cả phải lót tay) và luôn thay đổi.

Thường mua trực tiếp phải tốn kho (mặc dù họ cũng có kho nhưng không đủ và phải chi phí nhiều thứ), tốn công nhân - nhân viên và nhiều thứ khác. Thôi thì giao cho tư thương làm… vệ tinh là tiện và lợi nhất. Nói khác đi, “tư thương lái” là cánh tay nối dài của các “công đại thương lái”. Nếu họ có “ép giá” nông ngư dân thì đó là do các “công đại thương lái” này định giá, định quy cách, định điều kiện cho họ. Nói khác đi, chủ yếu họ chỉ là người làm công kiếm lời của các tổng công ty.

Đừng nghĩ là “tư thương ép giá, tư thương bóc lột”. Người bóc lột nông dân hình như không phải họ. Gần đây nhất, trong khi giá lúa Đông Xuân năm rồi là 5.000 - 5.200 đồng/ký, năm nay các tổng công ty cho rằng để bảo đảm cho nông dân có lời, họ sẽ đồng ý mua cho nông dân với giá 4.000 đồng/ký, trong khi các tư thương tại Cái Bè còn... ráng mua với giá 4.100 - 4.200 đồng/kg (giá đầu tháng 3-2010), mặc dù họ không được quyền xuất gạo trực tiếp và thoải mái như các tổng công ty nhà nước! Vậy ai ép ai?

Tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi kinh tế hàng hóa được hình thành khá sớm, hình ảnh của thương lái, của những người làm hàng xáo, của khách thương hồ, luôn gắn liền với sản xuất và đời sống của nông ngư dân. Ngoại trừ một số ít thương lái làm ăn chụp giựt, đa phần thành phần này đều gắn chặt với nhà nông. Có nơi họ còn phổ biến kỹ thuật canh tác và thông tin thị trường cho người sản xuất để tăng giá trị sản phẩm (hình như các công ty quốc doanh không quan tâm điều này). Họ tính toán đến từng đồng chi phí để hạ giá thành, để có thể mua bán được hàng hóa.

Thông thường từ đầu vụ, thương lái ứng trước phân bón - có khi cả tiền mua hàng - cho nông dân, lưới cá cho ngư dân (chịu chi phí vốn trước và dài ngày). Đến khi thu hoạch, các công ty quốc doanh chế biến, xuất khẩu đến ký hợp đồng và ứng một phần tiền mặt cho họ (chịu chi phí vốn sau và ngắn ngày) để họ mua hàng. Tùy theo thời điểm và chất lượng, thương lái sẽ tính giá mua khác nhau.

Để giữ chữ tín với nông ngư dân, khi giá thu mua của các công ty giảm đột ngột, nhiều lúc các thương lái vẫn phải giữ giá, hoặc phải mua đủ số như đã hợp đồng… miệng. Những khi bị chính quyền làm khó dễ như việc thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) dời chợ hoa đến nơi không thuận lợi, hay Quận 6 (TP.HCM) không cho ghe hoa cặp bến Trần Văn Kiểu dịp Tết Canh Dần vừa qua, họ cũng… lãnh đủ. Nhẹ thì không có lời, nặng thì lỗ lớn, cạn vốn, có khi phải thế chấp nhà, vay tiền ngân hàng để giữ chữ tín, làm ăn lâu dài.

Có thể nói rằng suốt 35 năm qua (10 năm bị triệt tiêu và 25 năm đổi mới), thương lái luôn luôn hiện diện bên cạnh nông ngư dân đồng bằng sông Cửu Long với vai trò chủ yếu trong lưu thông nông ngư sản. Có lẽ cũng cần nhắc lại một câu nói đầy ấn tượng và hơi bị “chệch hướng” của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (khi đó là Bí thư Thành ủy TP.HCM) về vai trò của các thương lái trong giai đoạn cải tạo công thương nghiệp: “Đáng lẽ phải gắn huân chương cho các ông bà tư thương. Không có mấy ổng bả, dân TP.HCM chết hết!”.

Cũng có một số thương lái có hoặc liên kết với cơ sở tồn trữ chế biến (hình thức của chành), hoặc có cửa hàng mua bán riêng, họ hoạt động với tư cách một thương gia. Nhưng số này hiện còn khá ít. Chưa thấy ai khuyến khích và hỗ trợ các thương lái tổ hợp lại thành công ty tư doanh vừa mua bán, tồn trữ, chế biến, vừa kinh doanh nội địa lại vừa xuất nhập khẩu, kiểu như các liên hiệp xã nông ngư nghiệp ở các nước khác.

Có một nhà báo từng nêu một câu hỏi hay: “Thương nhân (thương lái quốc doanh) thì nhận được sự hỗ trợ của nhiều phía như ngân hàng, nhà nước… còn thương lái thì không? Thương lái phải tự mình tìm đầu ra cho hàng hóa còn thương nhân thì luôn được hỗ trợ khi tìm đối tác kinh doanh?”. Có lẽ để tiến lên nền kinh tế thị trường đúng nghĩa trong một thế giới phẳng, cần có lời giải đáp sớm cho câu hỏi này.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các thương lái hội nhập được vào chủ trương, chính sách của Nhà nước, để lợi ích của thương lái gắn liền với lợi ích của các nhà sản xuất nông ngư lâm nghiệp, để tổ hợp các thương lái lớn mạnh như tại các nước có nền kinh tế thị trường hiện đại.

Theo NGUYỄN VĂN SƠNDoanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận