Phóng to |
Cuộc khảo sát thực hiện năm 2004 cho thấy đã có gần 20.000 khách hàng tìm đến các trung tâm để nhờ giúp đỡ.
Bên cạnh đó, 68,2% trong số 1.751 đơn thư gửi đến Ban Gia đình xã hội Hội LHPN TP.HCM cũng có bức xúc tương tự. Tuy nhiên, trên thực tế, số vụ án hình sự do vi phạm chế độ một vợ một chồng chỉ đếm trên đầu ngón tay, thậm chí, không ít địa phương thừa nhận: chưa hề xử qua những vụ án như vậy.
Vấn đề chính của nghịch lý này là người trong cuộc biết tìm đâu ra “bằng chứng” để làm chứng cứ tố cáo?
Đi tìm bằng chứng
Theo quy định, người tố cáo - tức nguyên đơn, có nghĩa vụ phải chứng minh điều mình tố cáo là đúng. Do vậy, khi tố cáo chồng vi phạm chế độ một vợ một chồng, người vợ phải kèm theo bằng chứng. Nhưng để có được “bằng chứng” trong trường hợp rất đặc biệt này là điều không đơn giản. Không ít trường hợp “chờ được vạ má đã sưng”.
Chị Nguyễn Phượng, ngụ P.9, Q.3, nhân viên một chi nhánh điện và anh Lê Minh, công tác tại đơn vị kinh tế của quân khu 7, kết hôn năm 1991. Năm 1993, do anh Minh có quan hệ “ngoài luồng” với một cô gái nên bị cơ quan đình chỉ công tác một năm, chờ xử lý kỷ luật. Hết thời gian kỷ luật, anh Minh lại tiếp tục quan hệ bất chính với một cô gái khác. Chị Phượng đã thuyết phục đủ cách, nhưng anh Minh vẫn ngày càng lún sâu vào mối quan hệ ấy.
Cuối cùng, chị Phượng dọa sẽ đưa ra tòa. Anh Minh chẳng những không sợ mà còn ngang nhiên thách thức: “Cô muốn thưa tôi, cô phải chụp được hình của tôi với người ta tòa mới xử, nói miệng ai tin?”. Chị Phượng chưng hửng vì: “Vợ chồng chỉ có một chiếc xe làm phương tiện đi chung... Sáng anh ấy đưa tôi đến cơ quan, chiều đón về, tôi làm sao có thời gian và phương tiện để tìm bằng chứng?”.
Chị Huyền Thư lấy chồng là anh Lê Hòa, nhân viên thanh tra giao thông huyện. Anh là con trai một, nên hai người phải sống chung với gia đình chồng. Thấy chồng thường xuyên vắng nhà vào ban đêm với lý do công tác đột xuất, sau nhiều tháng theo dõi, chị phát hiện chồng mình đã thuê hẳn một căn nhà trọ để sống chung với một nữ công nhân may. Chị báo cho mẹ chồng, mong một sự giúp đỡ. Nhưng mẹ chồng chị lại bảo “Nói có sách, mách có chứng, đừng nghe hơi gió”.
Để chứng minh, chị “canh me” chồng đến nhà trọ để báo công an lập biên bản làm bằng chứng. Công an lại từ chối vì cho rằng việc chồng chị đến nhà trọ còn trong thời gian bình thường (chưa qua 12 giờ đêm). Sự việc vỡ lở, chị Thư chẳng những không có bằng chứng mà còn bị anh Hòa cho mấy bạt tai vì “dám bêu xấu chồng tại khu nhà trọ”. Đồng thời, chị còn phải chịu đựng không khí lạnh nhạt, nặng nề của gia đình chồng.
Có cũng như không!
Tuy tìm thấy bằng chứng khó khăn như vậy, nhưng điều đó cũng chưa đồng nghĩa với việc đã nắm chắc phần thắng trong tay. Sự việc của bà Hoàng Nga, người có “thâm niên” đến 3 năm đeo đuổi việc yêu cầu chính quyền địa phương phải thực thi đúng pháp luật đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng của ông Đức, chồng bà, là một minh chứng.
Bà bức xúc kể lại: bà và ông Đức kết hôn năm 1983, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hóc Môn 1-1984. Năm 2003, khi hai người có 4 con chung, ông Đức đã làm đơn ly hôn khi có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, nhỏ hơn bà Nga đến 20 tuổi. Sau khi xem xét các bằng chứng do bà Nga thu thập và cung cấp, tháng 12-2003, TAND huyện Hóc Môn đã bác đơn xin ly hôn của ông Đức.
"Không chấp nhận cho ông Đức ly hôn, nhưng bản án cũng không tuyên buộc ông Đức chấm dứt quan hệ trái pháp luật đó, nên ông Đức lại cười vào mặt tôi và ngang nhiên tiếp tục sống với cô "vợ bé" - bà Nga nói. Tháng 3-2004, bà Nga làm đơn gửi CA TP. Tháng 4-2004, CA TP chuyển đơn của bà về CA huyện Hóc Môn.
Ngày 11-5-2004, trong công văn trả lời bà Nga, CA huyện Hóc Môn, thừa nhận: "Ông Đức có dấu hiệu vi phạm Luật HN&GĐ (1 vợ 1 chồng), cụ thể có dấu hiệu sống chung như vợ chồng với bà Th., sau đó bỏ và sống chung với bà Ch. ở xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Tuy nhiên, hành vi vi phạm luật HN&GĐ của ông Đức chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự được quy định ở khoản 1, điều 147 Bộ Luật Hình sự (chưa có dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử lý hành chính). Do đó, công an huyện chỉ đạo công an xã Bà Điểm tiếp tục xác minh và làm rõ, để báo cáo với UBND xã Bà Điểm có hướng xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền".
Theo bà Nga, hành vi ngang nhiên cưới người khác của ông Đức khi quan hệ hôn nhân giữa hai người vẫn được pháp luật thừa nhận, đã khiến bà bị sốc tâm lý, sức học của các con giảm sút, đời sống vật chất lẫn tinh thần của 5 mẹ con bà luôn trong hoang mang, căng thẳng... Như vậy mà vẫn không bị coi là hậu quả nghiêm trọng thì gọi là gì?
Tuy nhiên, bà vẫn hi vọng vào biên bản vi phạm hành chính và quyết định xử phạt của UBND xã Bà Điểm đối với một trường hợp vi phạm luật có bằng chứng rất thuyết phục, để làm cơ sở khởi kiện hình sự. Thế nhưng, chờ mãi không thấy CA xã rục rịch.
Tiếp tục hành trình đi tìm "chứng cứ" của mình, tháng 12-2004, bà Nga gửi đơn đến CA huyện Hóc Môn. CA huyện trả đơn vì cho rằng việc đó thuộc thẩm quyền của Thanh tra CA TP. Tháng 2-2005, bà Nga lại ôm đơn lên Thanh tra CA TP. Tháng 3-2005, Thanh tra CA TP lại chuyển đơn về Viện KSND huyện Hóc Môn cho đúng thẩm quyền giải quyết. Trong khi chờ đợi Viện KS giải quyết, bà Nga tiếp tục gửi đơn cho Hội đồng nhân dân huyện. Hội đồng nhân dân huyện chuyển đơn cho chủ tịch UBND huyện.
Cuối cùng, ngày 23-5-2005, căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính của CA xã Bà Điểm lập ngày 19-5-2005(?), ông Phan Văn Tốt, chủ tịch UBND xã Bà Điểm đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Đức mức phạt 300.000 đồng do vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đồng thời buộc ông Đức chấm dứt quan hệ trái pháp luật này.
Khi cầm được quyết định xử phạt này trong tay, bà Nga chỉ biết thở dài: "Bằng chứng chung sống trái pháp luật sờ sờ như vậy, mà phải từ tháng 11-2003 đến tháng 5-2005 mới lập biên bản để xử phạt và buộc chấm dứt quan hệ trái pháp luật. Giờ tôi cũng không hiểu liệu biên bản và quyết định xử phạt này có được xem là chứng cứ hợp pháp trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự hay không nữa?".
Trao đổi về vấn đề đi tìm "bằng chứng", luật sư Lê Hà Thúy Lan, Đoàn Luật sư TP.HCM thừa nhận: "Khó lắm! Khoản 1, điều 147 Bộ Luật Hình sự quy định: người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm. Nhưng, thế nào là hậu quả nghiêm trọng, trên thực tế không phải ai cũng có thể hiểu một cách khách quan, đầy đủ và thống nhất.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận