02/01/2009 15:52 GMT+7

Vết sẹo hình chữ nhân

CAO VĂN ĐỨC (ĐH An Giang)
CAO VĂN ĐỨC (ĐH An Giang)

AT - Cẩn thận nghe mày!

- Dạ! Ông Bảy đưa giùm con sợi dây!

- Nè! Mấy cái bẹ đó coi vậy chớ dễ tước lắm đó nghe, có kiến không?

- A ha! Có một bọng ong, hình như là ong ruồi, ông con mình có cái tẩm bổ rồi ông Bảy ơi!

- Từ từ, vụ đó tính sau, hôm nay hái hai buồng dừa giao cho bà Tám không thì bà hối!

- Dừa lửa là ngọt bá cháy rồi!

- Ờ! Cẩn thận nghe, tao đi nấu cơm à!

Nói đoạn ông thất thểu bước vô lều. Ông Bảy đã già lắm rồi, chân ông lại bị đau khớp kinh niên, tối nào tôi cũng phải bóp rượu gừng cho ông đỡ nhức. Tuy vậy, hễ việc gì tự làm được là ông tự làm, chỉ có việc bóp chân là ông muốn tôi làm. Ông ít nói nhưng đã nói thì chỉ một lời như đinh đóng cột. Chưa bao giờ ông la mắng gì tôi dù tôi có nghịch ngợm, ham chơi với tụi thằng Cò, con Khía mà quên về nấu cơm hay đi gom trái cây để kịp đi chợ nổi Cái Răng...

- Dạo này xăng dầu lên quá xá ông Bảy! Ghe tui chạy từ đây lên trên cũng hết bộn tiền hà!... Tui tính gom luôn công hái là hai ngàn một trái nha!

Bỏ chén cơm xuống, ông Bảy buông một câu nhẹ bong:

- Cũng được!

Khuôn mặt người đàn bà buôn dừa ánh lên nét tươi vui kín đáo, dường như sợ niềm vui khiêm tốn ấy bị đánh cắp nên bà ta giấu liền.

- Vậy héng! Tui về. À! Ông lấy tiền liền không hay gom lần sau lấy một cục?

- Cho ông con tui nhận giờ đi, gạo cũng sắp hết rồi!

Ông ngồi xếp bằng trên bộ ván cũ, cẩn thận xếp từng tờ giấy bạc nhàu nhàu, nhăn nhúm, vết dơ và vết mồ hôi còn thấy rõ như mủ cây gòn, ông vừa lẩm nhẩm tính.

- Nhặt à! Tao tính vầy mày coi được không! À! Mày nhiêu tuổi rồi?

- Ông nhớ chớ sao con biết.

- Để coi... năm đó lũ lên muộn... rồi! Mười hai, bằng này tao đã theo ghe đi khắp xứ rồi, còn mày... đi học nghe con?

- Bộ đi học là đi khắp xứ hả ông Bảy?

- Không! Đi học là cắp cặp đến trường như con bé Mai đó! Chỉ đi từ nhà đến lớp thôi, nhưng nó sẽ giúp mày đi khắp thế giới luôn, xứ thì ăn nhằm gì mày!

- Thích quá ta! Đi liền nghe ông!

- Khà khà... Ờ! Đi sang quán bà Tư béo trước rồi tháng tới tao thu xếp đưa mày đi học... Chết mồ hông! Không có khai sanh làm sao đây?

Tôi vừa cầm xị rượu về đã thấy ngọn đèn dầu leo lét mà ông thắp để dụ bồ hóng trong lều, còn ông thì đang lúi húi dưới ghe tìm cái gì đó.

- Đây rồi!

- Hổm rày ông không uống là để dành tiền cho con đi học phải không?

- Ừm! Mắt tao kém quá, mày vô lều lấy đèn xuống đây, nếu như tao dự đoán đúng thì đêm nay tao sẽ vừa ngắm trăng vừa ca cho mày nghe!

- Hoan hô ông!

- Trần... Trần Văn... để sát chút xíu coi... Nổi! Khà khà... có vậy chớ! Ngon rồi! Mày tên Nổi!

- Bộ ông say hả? Chưa uống mà ta! Con tên Nhặt mà!

- Đó là do tao gọi đại vậy, lúc đó tao đâu dám mở cái bọc này ra, tao sợ có tiền hay có bùa... sợ mất mày!

Cẩn thận quét lớp bụi trên bàn thờ bà Bảy, tay ông run run cắm ba que nhang lên rồi mấp máy:

- Bà có linh thiêng thì phù hộ cho tôi khỏe thêm mấy mùa nữa nghe! Tui cũng muốn về với bà lắm chứ bộ, nhưng ai biểu bà xui khiến cho nó đến làm bạn với tui... vậy heng!

Tuy chỉ là bức hình vẽ truyền thần đen trắng nhưng phải công nhận bà Bảy có đôi mắt đẹp, trong ánh sáng mờ tỏ của ngọn đèn dầu, ánh mắt ấy như có tia sáng ấm áp.

- Hôm nay tao cho mày nhậu với tao để ghi nhớ ngày mày có tên và cũng để tạo khí thế cho mày chuẩn bị đi học. Vào trong lấy bọc xoài, mấy con khô và cây đờn ra đây coi.

Từ nhỏ đến giờ tôi chưa thấy ông đàn lần nào, cây đàn kìm cứ gác để đó trên vách, một sợi dây đã bị đứt ông cũng không thèm tháo ra thay dây khác.

- Tao cho mày uống một ly thôi nha! Khà!

Ông vừa nhấp xong chén rượu, tôi đang ngập ngừng chưa dám uống thì ông thò tay vào trong túi áo treo trên cây bẹo hàng, lấy xuống một đôi dây đờn mới nhưng ông chỉ thay một dây, còn một dây ông đưa cho tôi rồi nói.

- Mày giữ giùm tao, mai mốt tao theo bả, mày đờn cho vợ chồng tao nghe bản Nam Xuân nghe.

- Trời đất! Con có biết mặt mũi nó ra sao mà ông biểu con đờn?

- Thì tao chỉ cho mày.

Lấp ló sau mấy ngọn gáo là mảnh trăng thượng tuần mờ đục đang cố len lỏi ra khỏi những đám mây để chia vui và tỏa ánh bạc xuống dòng sông lấp loáng chảy lững lờ.

- Nắn phím tơ rung nghe buồn ảo não... giặc chạy rồi anh trở lại quê xưa, hàng cây lả ngọn đã vươn mình đứng thẳng... tiếng đàn kìm đêm nay có con vạc sành gõ nhịp, em đâu rồi... đàn rướm máu dây tơ...

Vừa dứt câu vọng cổ, ông nghẹn ngào như không phải là nói với tôi mà nói với một người tri kỷ:

- Tao đi tập kết thì bả ở nhà bị bọn mã tà hãm hiếp khi đang mang bầu đứa con trai đầu lòng, bị kháng cự quyết liệt nên tụi nó rạch bụng bả rồi quăng mầm sống xuống sông. Lũ chó má, bà bầu mà nó cũng không từ. Năm 1962 tao về thì chỉ còn thấy tấm hình này... Từ đó tao sống mà như chết rồi, hòa bình lập lại tao xin giải ngũ, đi ghe khắp xứ để tìm tung tích, hi vọng gặp được ai đó vớt xác lên mà chôn cất đàng hoàng... tìm hoài chẳng thấy đâu, chỉ thấy thằng quỷ mày ở rạch Vàm Nao, tao tưởng là con trai tao hiện vào mày nên tao mừng quýnh và không dám mở cái bọc này, sợ... tao sợ mất mày!

- Không! Con ở mãi với ông! Con không đi đâu hết!

- Ừa! Con! Con của ba!

- Ba!

Dưới ánh trăng mờ tỏ, lần đầu tiên tôi thấy ba khóc, vết sẹo trên má ba giật giật, mỗi lần xúc động mạnh là vết sẹo ấy lại ửng đỏ lên và giật giật, một giọt nước mắt chảy ngang qua vết đỏ ấy, ánh lên rồi lăn xuống cằm, rơi trúng ly rượu ba đang cầm trên tay.

- Ba ơi! Sao cái thẹo của ba lạ quá vậy ba?

- Hồi... tao... ba đi làm mướn cho nhà má mày rồi may mắn được bả thương, bả dạy chữ cho. Đời ba cũng như con, chẳng biết họ tên mình, chẳng có ba má, chỉ biết lớn lên cùng ba nuôi làm nghề chăn vịt mướn. Độ lên mười sáu tuổi, vừa biết đi làm mướn nuôi ổng thì ổng bỏ ba mà đi, chỉ để lại cây đờn này với bản Nam Xuân. Trong một tối đang ngồi dưới gốc cây còng ngắm trăng thì bị ông hội đồng bắt được, trói ba như con heo tế rồi đánh bầm dập chết đi sống lại và nhốt vào kho lúa.

Chính ông hội đồng đã lấy cái tẩu thuốc châm vào mặt ba như mấy thằng tù binh người Phi kể ba nghe về cách người ta đóng dấu nô lệ, hên là ba còn thiếu một nét nữa mới thành dấu X, nhưng cũng không hơn gì nô lệ! Ba còn nhớ cái mùi thịt cháy lúc đó... Ực... Tối hôm sau thì bả ăn cắp được chùm chìa khóa rồi ba dắt bả đi trốn đến xứ này, chẳng có ai chứng kiến gì hết trọi, chỉ biết thề với mấy cây điên điển là sẽ sống bên nhau suốt đời, rồi ba nhập ngũ... rồi... Bả nói cầm theo cây đờn này, khi nào nhớ bả thì đờn cho bả nghe... ai ngờ...

Đêm đó ba hết khóc rồi cười khà khà, uống thêm một xị nữa rồi hai ba con tôi say mềm và ngủ vùi trong tấm mền cũ dưới ghe, sáng tỉnh giấc thì tôi thấy tấm mền nằm phía tôi, còn ba vẫn nằm bất động, tôi lay lay nhưng chẳng thấy gì, người ba lạnh toát và cứng như khúc củi. Tôi gào lên và chạy vụt sang nhà bà Tư béo kêu lên khản cả tiếng:

- Bà... Tư! Bà Tư ơi! Ôn... g..ông... ba tui chết rồi!

- Cái gì? Ba mày?! Đâu?

Ba ơi! Con chưa kịp học điệu Nam Xuân mà ba!

0lUstA82.jpgPhóng to

Áo Trắng số 38 (ra ngày 15-12- 2008) hiện đã có mặt tại các sạp báo.

Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này.

CAO VĂN ĐỨC (ĐH An Giang)
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất