Phóng to |
|
Minh họa: Mặc Tuân |
- Sông Đực mắc đi ve gái chớ đi đâu mà hỏi! Chị Hai - chị dâu tôi - một tay nách đứa con gái, bụng lùm lùm mang bầu đứa con thứ hai, chiều nào cũng ra ngoài bờ sông với thằng em chồng ngóng… trời mây sông nước.
- Vậy sông Cái giống chị, còn sông Đực giống anh Hai?
Chị dâu tôi thở dài không trả lời.
Tụi con nít chúng tôi hồi đó gọi những con kênh, con rạch dẫn ra sông là con của sông Cái. Sông Cái có hàng trăm đứa con ngoằn ngoèo mọc ra từ thân mình rồi lại tiếp tục chia năm chia bảy miệt mài chạy về đâu chẳng rõ. Vì không có con sông nào là sông Đực nên mặc nhiên sông Cái trở thành không chồng mà lại có con.
Chị dâu tôi có phước hơn sông Cái. Chị có chồng đàng hoàng, chồng chị là anh Hai của tôi. Nhưng bây giờ tôi lại thấy chị Hai sao giống con sông Cái chảy qua trước nhà quá chừng.
Chị dâu tôi quê gốc ở Bến Tre theo mẹ xuống xứ tận cùng của con sông Cửu Long lập nghiệp. Ban đầu gia sản của mẹ con chị chỉ là một chiếc ghe hàng bông, cứ mỗi trưa chiếc ghe hàng bông của mẹ con chị lại chèo ngang trước mặt nhà tôi. Phải nói là chị có giọng rao ngọt như đường phèn: Ai bí rợ, khoai lang, khóm, đu đủ, rau cải hôn…
Cũng vì cái giọng ngọt như đường phèn này mà anh Hai tôi mới mười bảy tuổi đã chết mê chết mệt. Hôm nào ghe hàng bông chèo ngang nhà, anh cũng kiếm chuyện chạy xuống bến để ngó. Bầu bí, khoai lang, khóm…thì có gì để mà ngó, cho nên tôi rành sáu câu: anh ngó chị!
Lúc ấy tôi chừng bảy tám tuổi, nên nhớ áng chừng. Ngày đám cưới của anh, tụi con nít trong xóm cứ đứng trước cửa rạp la ông ổng: Anh Hai Thông/ cưới chị hàng bông!
Cái thẹo trên trán tôi chính là hậu quả của trận đánh lộn với tụi nó trong ngày đám cưới của anh.
Con Quyên chào đời sau đám cưới hơn một năm. Tên Quyên của nó có một phần “công” gợi ý của tôi. Anh Hai tôi tính qua loa đại khái. Lúc ẵm đứa con gái đầu lòng từ nhà bảo sanh về, chị Hai tôi thủ thỉ:
- Mình đặt tên con là gì hả anh?
Anh Hai tôi lúc này đã sần sần tiệc ăn mừng “lên chức” cha, gãi đầu sồn sột:
- Thì tên gì cũng được, đặt tên là Bé Hai đi!
Tôi phản đối ngay lập tức:
- Tên Bé Hai xấu hoắc, đặt tên Quyên đi!
- Mắc giống gì đặt tên Quyên? - Anh Hai tôi vặn lại.
- Thì tui nghe mợ Chín ru con như vầy: Chim quyên ăn trái nhãn lồng/người dưng khác họ sao đem lòng nhớ thương. Tên Quyên nghe hay hơn Bé Hai nhiều - tôi phân trần.
- Mày đúng là nhiều chuyện, Quyên thì Quyên nhưng mà sau này nó không ăn trái nhãn lồng là mày biết tay tao.
Vậy là xong cái tên đứa con gái, anh Hai tôi lăn ra ngủ khì.
Lúc con Quyên được ba tuổi anh tôi sanh tật. Cứ chiều tối lại thả đi đâu đó tới khuya lơ khuya lắc mới về nhà. Lúc ấy cả xóm mới có một chiếc tivi đen trắng đằng nhà bà Bảy Mập. Cứ trời vừa sụp tối là thanh niên nam nữ lại tụ tập ở trước sân nhà bà Bảy Mập để coi tivi, nhất là tối thứ bảy vì có cải lương. Khoái nhứt là tuồng nào có Minh Vương, Lệ Thủy thì y như rằng mấy bà già chặm nước mắt vô ống quần đến ướt nhẹp.
Anh Hai tôi không thích coi cải lương nhưng đến thứ bảy lại đến ngồi trước để chờ. Mà chờ ai? Tôi biết rõ anh chờ Thùy Dung, con gái của bà Bảy Mập. Thùy Dung trạc tuổi anh tôi nhưng tại ghét cái tật điệu của nó nên đánh chết tôi cũng không kêu nó bằng “chế”. Tới thứ bảy nào nó cũng ngồi trong buồng để bôi trét son phấn lên mặt suốt thời gian tin thời sự cho đến lúc có cải lương mới bước ra khỏi buồng.
Mắc giống gì chỗ ngồi rộng rinh không chịu ngồi mà lại vẹo tới vẹo lui chen vô ngồi sát rạt chỗ anh Hai. Tới đoạn đau khổ khóc lóc trên ti vi thì ở dưới này nó cũng khóc lóc sướt mướt dụi mặt vô áo của anh Hai. Mùi son phấn của nó có cách đến chục công đất tôi còn ngửi được chớ nói gì đến chị Hai tôi.
Anh Hai Thông duy trì cảnh một kiểng hai quê tới chị dâu tôi vừa mang bầu đứa con thứ hai thì quyết dứt áo bỏ nhà đi với con Thùy Dung. Tôi nhớ bữa đó gió chướng, nước lớn dữ lắm, bìm bịp kêu rộ lên cả một khúc sông. Tôi đang ở truồng phóng đùng đùng từ nhánh mắm chìa ra ngoài sông cùng với tụi nhỏ trong xóm thì thấy tàu đò ghé bến trước nhà bà Bảy Mập, rồi từ trong nhà tôi thấy con Thùy Dung bước xuống đò trước, sau đó thì anh Hai tôi xách chiếc cặp da quen thuộc bước theo sau. Tôi khản cổ gào lớn:
- Anh Hai đừng đi, chị Hai dặn trưa về ăn cơm đó, có cá rô kho trái giác!
- Chị Hai mày có kho với gan rồng anh Hai mày cũng bỏ nhà đi theo bà Dung chứ đừng nói kho với trái giác! - Tụi nhỏ cười rần rần và khoát nước vào tôi tung tóe.
Anh tôi cũng có bịn rịn đôi chút, trước khi chui vô khoang tàu, anh còn ngoái lại phía sau nhìn một lượt như muốn thâu tóm hết cảnh vật nơi bến sông trước nhà mình. Gốc mắm cổ thụ sần sùi chi chít những vết thẹo mà có thời anh đã dựa lưng vô đó đến láng bóng để chờ chiếc ghe hàng bông của mẹ con chị. Nhánh bần ổi xòa sát mặt nước có lần anh lặn núp trong đó giả bộ chết hụt làm chị Hai tôi sợ xanh mặt, khóc lóc bù lu bù loa…
Nhưng bao nhiêu đó có ăn thua gì đâu, anh đã mất hút vào trong khoang tàu, bỏ xứ ra đi với con Thùy Dung. Mùi cá rô kho trái giác lúc này làm sao đủ sức níu chân anh so với mùi son phấn ngạt ngào của con gái bà Bảy Mập.
- Có kêu anh Hai về ăn cơm không Út? - Chị Hai tôi lúi húi bớt lửa ơ cá kho đằng sau bếp.
- Kêu rồi, ổng không về đâu! - Tôi vùng vằng.
- Trời, sao trần truồng vậy? Quần áo đâu hết trơn rồi? - chị Hai tôi ngẩng đầu lên.
- Ổng bỏ nhà đi với con bà Bảy Mập rồi, ở đó mà còn lo cơm nước với quần áo! - Nói đến đây tôi không còn cầm lòng được nữa, mặc kệ bộ dạng của mình với cái quần cụt vắt quên ở nhánh mắm ngoài mé sông, tôi nằm lăn ra nền nhà khóc tức tưởi. Vừa khóc vừa rủa bà Bảy Mập sanh ra con Thùy Dung làm chi để nó dụ dỗ anh Hai tôi bỏ nhà đi, bỏ con Quyên cù bơ cù bất, và bỏ cả ơ cá rô kho trái giác của chị Hai nấu…một mình tôi làm sao ăn hết?!
Tôi khóc lóc gào thét đến nỗi quên nhận ra rằng ơ cá kho đã bể tan tành dưới chân chị dâu tôi tự lúc nào.
Kể từ đó trở đi, gốc mắm ở bến sông trước nhà lại có thêm má con của chị Hai tôi bầu bạn. Khi nào xuống bến, chị cũng tựa người vào chính cái chỗ của anh trước kia và nhìn mông lung ra ngoài sông, thỉnh thoảng lại khe khẽ thở dài khi nhìn xuống chiếc bụng đang ngày càng cao dần.
Ba mẹ con chị và tôi - thằng em chồng cứ như cây cọc cắm xuống bến sông này chờ anh - chiếc xuồng lãng tử không biết giờ đang trôi dạt tận khúc sông nào. Ngày nào tôi cũng ra bến sông mong được nhìn thấy anh bước lên bờ từ chiếc tàu đò và trong nhà, chị dâu tôi sẽ bắt vài con cá rô rộng trong khạp đem mần kho trái giác. Tôi thèm đến đứt ruột vì từ khi anh đi đến giờ, chị dâu tôi chưa một lần nấu lại món này.
Chị dâu chờ anh Hai tôi từ khi tóc còn xanh đến lúc trên đầu điểm bạc rồi bạc trắng, chờ từ lúc con Quyên mới chập chững biết đi đến lúc nó đi lấy chồng, thằng con trai của chị cũng lấy vợ rồi ở xa, chờ từ khi bến sông này còn rậm rì dừa nước, cây cối đến khi nó trở thành bến lở tan hoang. Mặc kệ chuyện đời dâu bể, chị vẫn cứ chờ.
Khi cây mắm già cỗi ngã đùng xuống sông, chị lại trồng vào đó một cây mắm khác “để anh Hai của chú biết đường mà về nhà”. Nhưng bến mỗi ngày một lở nên khi chị vừa trồng xong cây mắm con thì đến chiều sóng đã cuốn phăng nó đi mất. Để đến ngày hôm sau, chị lại lọ mọ ra bến lặp lại công việc trồng một cây mắm ngay chỗ cũ!
Nhiều hôm đến chiều tối vẫn chưa thấy chị Hai tôi trở lên, con Quyên tất tả chạy xuống bến thì thấy chị vẫn còn ngồi thừ ở đó. Lôi kéo dữ thì chị giận đánh con Quyên túi bụi rồi nói: Tao chờ ba mày, chừng nào bìm bịp kêu mới vô nhà!
Bìm bịp kêu là nước lớn, là cữ tàu đò về cuối cùng trong ngày. Đó là trong trí nhớ hồi năm xửa năm xưa của chị chớ bây giờ chỉ có tàu cao tốc phóng ào ào, tung sóng trắng xóa. Còn vụ bìm bịp kêu nữa, cả khúc sông này làm gì còn con bìm bịp nào mà chị chờ để nghe tiếng kêu của nó, tìm con bìm bịp thì tìm trong mấy hũ rượu thuốc may ra.
- Ba về mười mấy năm nay mà má còn chờ gì nữa? - Cuối cùng con Quyên phải nhờ đến tôi để phụ nó cõng chị lên nhà - Không tin, má hỏi chú Út coi phải không?
Thực ra anh Hai Thông đã về nhà từ lâu sau khi chị dâu tôi sanh đứa con trai được vài năm. Thùy Dung không về theo cùng anh. Theo lời bà Bảy Mập kể thì con gái bà bỏ anh tôi để đi lấy chồng Đài Loan gì đấy. “Mà thằng chồng Đài Loan của nó dữ dằn lắm nghen mậy, nghe đâu là dân xã hội đen có máu mặt nhưng giàu nứt đố đổ vách, bởi vậy con Dung mới gởi tiền về cho tao xài không hết!”.
Nghe bà Bảy Mập khoe con rể mà tôi giận sôi gan nên nhảy vô chen ngang:
- Ờ phải rồi, tiền xài không hết bà mới mua đường về ăn thay cơm nên bây giờ bị đái đường.
Mấy lần bà Bảy Mập rượt tôi chạy vắt giò lên cổ.
Chuyện Thùy Dung lấy chồng Đài Loan không biết thật hay giả nhưng chuyện thằng con rể của bà Bảy Mập là dân xã hội đen thì không một ai mảy may nghi ngờ, vì anh Hai tôi trở về trong bộ dạng thân tàn ma dại là do thằng này thuê người tạt a xít làm cả khuôn mặt anh Hai tôi biến dạng khủng khiếp. Đến mức lúc anh vừa bước vô nhà chưa dứt tiếng “Em ơi anh về rồi nè” thì chị Hai tôi đã lăn đùng bất tỉnh.
Đến khi tỉnh dậy thì chị đã hóa ra người ngớ ngẩn. Chưa lần nào chị tin người đàn ông có gương mặt khủng khiếp đang ở trong nhà mình kia là anh Hai tôi - chồng của chị. Mà chồng của chị còn đang ở đâu đó, chỉ sửa soạn về, miễn là chị chịu chờ mỗi ngày ở ngoài bến sông và tiếp tục trồng một cây mắm vào chỗ cũ.
Ngày chị dâu hấp hối chị còn dặn con Quyên đừng trang điểm gì cả “kẻo ba mày về nhận không ra”. Chị còn dặn nó “nhớ bới tóc củ tỏi cho má, ba mày thích vậy!”. Anh Hai tôi quỳ gối bên chị khóc như con nít thì bị chị một hai đẩy ra bảo: “Tui là gái đã có chồng có con rồi, chồng tui về ảnh mà thấy là ảnh đánh anh chết bây giờ!”. Cuối cùng, chị dâu ngoắc tôi lại căn dặn: “Út nhớ, khi nào anh Hai về nhớ kêu chị thức dậy nấu cá rô kho trái giác cho ảnh ăn, anh Hai của chú thích món đó lắm!”.
Vậy là chị Hai tôi nhắm mắt ra đi với cuộc chờ đợi còn dang dở của mình.
Vậy là con sông Cái chưa bao giờ tìm gặp con sông Đực, cho đến tận bây giờ.
Áo TrắngXuân Tân Mão2011 hiện đã có mặt tại các sạp báo. Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này. |


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận