Phóng to |
| Paul Eluard |
Tình yêu là hơi thở xuyên suốt trong thơ ông, cho dù đó là những bài thơ thời thế, chiến tranh hay chính trị. Tình yêu là hình cũng là nền của thơ ông. "Tôi thắp lên ngọn lửa, màu trời xanh đã bỏ rơi tôi/một ngọn lửa để được làm bạn với nó". Dường như ngọn lửa đó vẫn cháy mãi trong thơ ông. Ngọn lửa đốt cháy cô đơn, cái lạnh, sự khốn cùng, bóng tối, cái chết.
Ngọn lửa bất diệt bởi nó được nuôi dưỡng bằng tình yêu, “em đã tới ngọn lửa đã bùng lên”, nó chính là tình yêu sẽ “tái tạo con người”, sẽ tái tạo tất cả. Vâng, đơn giản đó là tình yêu, không như một ý niệm mơ hồ mà là máu thịt của khoảnh khắc bây giờ và ở đây, đang thở, đang đập, đang vỗ cánh, đang gọi anh, đang gọi em, đang nói bằng ngôn ngữ ấm áp của lứa đôi, và không ngừng tái sinh như chim phượng hoàng từ điêu tàn đổ nát. Tình yêu thi ca, tình yêu chính là yếu tính định mệnh của chính thơ.
Trong quyển sách cuối đời, Đường và đường mòn thi ca, được xem như là bản chúc thư thi ca của ông, Eluard một lần nữa khẳng định tình yêu là nơi chốn đích thực của thi ca và kinh nghiệm yêu đương luôn kết hợp gắn bó với kinh nghiệm thi ca. “Mọi lời tỏ tình đều bao hàm một vinh quang nào đó. Nó kéo theo sự kính trọng. Mọi cơn vuốt ve, dù của thân xác hay của ngôn từ đều thiêng liêng… Khoảng rộng của khát vọng bao trùm mọi không gian. Không có tình yêu hạnh phúc hay khốn khổ, không có tình yêu kiểu Platon, lẫn tình yêu thỏa mãn, lẫn tình yêu vô ích, lẫn tình yêu bắt buộc. Chỉ có tình yêu, sứ giả của cái chết và sứ giả của đời sống, nhân tố tiến hóa. Và bộ mặt trái đất không ngừng thay đổi với nó. Tình yêu hiện hữu, không bền vững và bền vững. Mọi con người đều phải yêu. Tính tất yếu tuyệt đối đó buộc chúng ta phải ngưỡng vọng mọi hình dạng của tình yêu. Nó là sự ngây ngất độc nhất, sống được”.
Nếu tình yêu là cách sống, chiếm hữu, lĩnh hội tức khắc cuộc đời này trong sự toàn vẹn của nó, người đàn bà là hiện thân của ý hướng, khát vọng sống của nhà thơ, mang đến cho nhà thơ cả một thế giới mà nàng là sự khơi mở, nàng trở thành khả hữu của thi ca, nguồn cảm hứng của thi ca. Tôi không cô độc, tên gọi một bài thơ cũng là khẩu hiệu thơ Eluard, nhà thơ của sự hỗ tương, của sự bùng nổ ý thức trong các mối tương quan chằng chịt của con người, với thế gian, mà tình yêu là khởi điểm, suối nguồn, nền tảng và cứu cánh của mọi mối tương quan.
Có thể nói thơ Eluard là triết học về tình yêu bắt đầu từ mối tương quan anh/em của đôi lứa, không phải thông qua ý niệm và huyền thoại mà qua hiện thực của cái nhìn, sự vén mở, những vận động của trái tim cùng sự giao ngộ của những ý nghĩa thuộc con người. Con người trước tiên là đôi mắt, cái nhìn, kể cả đôi mắt đang nhắm, đang dội lại cái nhìn vào ký ức của chúng. “Người ta chỉ thấy điều mình muốn thấy với đôi mắt nhắm khi tất cả con người trọn vẹn đang biến thành cái nhìn. Kỳ diệu thay, đôi mắt màu mỡ, chúng là dòng sông, là ánh sáng, là giường nằm, là đường đi":
Đôi mắt em trong đó đôi ta Cùng ngủĐã tạo ra ánh sáng đàn ông của emMột số phận tốt đẹp hơn những đêm trần gian
… Đôi mắt em trong đó anh du hànhĐã tạo cho vận động những con đườngMột hướng tách khỏi trần gian
Chúng hứa hẹn một trường thị giác phong phú như đất màu mỡ hứa hẹn một mùa hoa trái xinh tươi, bởi đó là nơi chốn của mọi ý hướng, mọi chân trời, cũng là nơi chốn người ta tự nguyện giam mình, nó là tấm gương phản chiếu một cái nhìn khác, một tấm gương khác, như bàn tay đưa ra cho một bàn tay cũng phản chiếu trong bàn tay đó: “Giữa những con mắt đang nhìn nhau, ánh sáng tràn bờ”.
Hình ảnh thơ của Eluard nặng phần thị giác, nó phát xuất từ cái nhìn, nó chiếm lĩnh không gian, nó mang tính vật chất, thể chất, nhục cảm. Nhưng cái vật chất, cái trong suốt ở đây cũng không kém phần bí ẩn khi ông nói về một cái nhìn “trải ra như một thân xác sáng láng”, về một thứ xác thịt có thể nảy sinh trực tiếp từ con mắt. Ôi, với một cái nhìn thôi mà người ta đã vén mở cho nhau ngay trên bình diện xác thịt. Bởi cái nhìn là bản thân ước muốn và khát vọng luôn vẫy gọi một không gian khác, một chân trời khác, một thân xác khác.
Ở đây có thể nói Eluard là nhà thơ của cái nhìn, lời nói thi ca cũng là lời nói đang nhìn, đang vẽ lại hình dạng sự vật sờ mó được, bài thơ không chỉ được đọc mà nhìn thấy: ngôn ngữ cũng là cảnh tượng, từ là đồ vật. Dĩ nhiên đối tượng xuất hiện (dưới cái nhìn) không như một cái gì lạnh lùng, kín bưng, mà như một thực tại sống động đang sinh sôi, đang tìm kiếm hay gặp lại hình dạng, màu sắc của mình: “Nàng có hình dạng đôi bàn tay tôi/nàng có màu sắc đôi mắt tôi”.
Hình ảnh giản dị, đầy nhục cảm làm nổi bật vai trò thân xác trong thơ Eluard, thân xác với những những nguyên tố thuộc trật tự sinh vật, cũng như nước lửa, không khí… trong thế giới vật chất:
Để bắt đầu anh xin kể ra các nguyên tốGiọng nói em mắt em tay em môi em
Chúng có một sức sống riêng, một định mệnh riêng qua cái nhìn, qua mộng tưởng, qua ngôn ngữ nhà thơ: “Có một “đức hạnh” của đôi bàn tay, “ân sủng” của đôi môi, một “bình minh nảy sinh từ xác thịt cuồng nhiệt”, một “tia sáng của tĩnh mạch, một “nhịp đập của máu qua các nẻo đường thế giới”… Sự vật đã có một đời sống bởi đã được soi sáng, chạm tới, vén mở, đồng thời tỏa sáng, mời gọi, tham dự, hiến dâng: “nhưng bàn tay đang ve vuốt tôi/chính cái cười của tôi mở nó ra“, “chỉ bằng một cơn vuốt ve/anh làm em sáng lên trong tất cả sự rạng rỡ của em”…
Có thể nói ước muốn là khởi điểm của tất cả sự sống, tình yêu. Và thơ tình mãi mãi là cuộc phiêu lưu của ước muốn nhà thơ. Ước muốn đòi rời bỏ chính mình, đến với tha giới, đốt cháy khoảng cách, và không hề ngơi nghỉ, bởi nó còn phải lên đường cho dù đã tới, “tới tức là lên đường”, bởi dừng bước cũng là chết. Ở đây, Eluard gặp René Char: “Bài thơ là tình yêu thực hiện từ ước muốn còn là ước muốn”, đơn giản bởi:
Sóng nước dòng sôngSự phát triển của bầu trờiGió và cánhCái nhìn lời nóiVà sự kiện anh yêu emTất cả là vận động
Mấy câu ngắn gọn: thế giới thơ tình thu nhỏ của Eluard với đầy đủ dung mạo, chất liệu, ý đồ, phong cách. Chỉ có vận động, trào dâng, tuôn chảy, của thế giới, của ước muốn, của lời thơ.
Thế là em không thể gom về những ngọn sóngMà những con thuyền là những quả hạnhTrong lòng bàn tay ấm áp và mơn trớn của em sao
Ngôn ngữ không kể, càng không kể lể, mà phác hoạ, dàn cảnh xen với nhân vật và hành động tạo thành một thế giới vừa trong suốt vừa bí ẩn. Một cái gì đó đã ẩn hiện nhưng còn mơ hồ bởi nó còn đi tới. Sóng nước kia sẽ xô đẩy những con thuyền về đâu cho dù chúng đã nằm gọn trong lòng bàn tay, ấm áp và mơn trớn? Thơ Eluard tràn ngập những hình ảnh của sự sống, đúng hơn của sự vận động: thuyền, sông nước, ánh sáng, ngọn lửa, nhịp đập của máu, cây cỏ, cành nhánh, đường đi…
Những con đường yên ả vạch ra từ dòng máu sáng láng của emAnh sáng tay em hé mở sương mù
Vận động liên tục tìm tới ánh sáng, sự trong suốt, bỏ lại đằng sau quá khứ, kỷ niệm, để “mỗi ngày một tinh mơ hơn, mỗi mùa một trần trụi hơn/tươi mát hơn”, nhẹ nhàng hơn, bay bổng hơn, như một chiếc lông tơ, một cái cánh, một con chim mà yếu tính là đào thoát, tung bay:
Một cánh chim bayNó không sợ ánh sáng bao giờNhốt kín trong cuộc bay của mình Nó không có bóng
Bởi nó là cơn say, nó là ánh sáng, nó “ở giữa mặt trời”, nó là mặt trời trong mặt trời, nó không biết tới bến bờ, giới hạn.
Hình ảnh con người trong hành trình vô tận, từ anh tới em, từ em tới anh, từ chúng ta tới kẻ khác, tới cuộc đời và “tình yêu chính là con người dở dang”. Thơ tình của Eluard lúc nào cũng lạc quan yêu đời, vẫn không tránh khỏi những bóng tối, hoài nghi, khốn khổ như chính ông đã từng trải qua. Gala, Nush, Dominique: ba người đàn bà, ba cuộc tình, cũng là ba nguồn cảm hứng quyết định từng giai đoạn, từng chu kỳ của đời/thơ ông, và chúng ta cũng đừng quên hình ảnh của người đàn bà trong thơ ông không phải là một ý niệm đàn bà chung chung mà là một người đàn bà cụ thể bằng xương bằng thịt: người ông gọi là em cũng là vợ ông đồng thời cũng là trung gian hòa giải với cuộc đời, với tha nhân.
Gala là mối tình thời trẻ với những xúc động tươi thắm và trắng trong. Những rối loạn trong tình yêu và trong ngôn ngữ tình yêu không làm mất đi sự giản dị, thuần khiết vốn là đặc trưng của thơ Eluard.
Nush là tình yêu không giới hạn, đậm nét nhục dục nhưng không hoàn toàn vị kỷ. Tình yêu trở thành suy niệm về tình yêu, nó vươn tới cái liên cá thể, nó bao dung và sâu lắng hơn, nó đưa con người từ chân trời một người tới chân trời của mọi người, từ cái tôi tới cái chúng ta, và từ đây, “đôi ta chỉ có thể sống được chung thủy/với cuộc đời”. Cái chết của Nush là một biến cố bi thảm nhất trong đời ông, nó đánh dấu sự gãy đổ của thời gian, nó phủ định thi ca mà tình yêu là tên gọi. Nhưng chính lúc đó ông càng dấn sâu hơn trong hoạt động vì một ngày mai tốt đẹp hơn, và thơ ông lại có một kích thước mới, một chiều sâu mới chừng như nỗi đau riêng càng mở toang cho ông những cánh cửa.
Với Dominique, tình yêu một lần nữa như chim phượng hoàng từ đống tro tàn tái sinh trong ông và thơ ông, sôi nổi và thuần khiết, sâu lắng và đậm đặc. Đó là tình yêu của hai con người đã từng biết tới nỗi đau riêng và chung, cơ hội giúp ông hoàn thiện đời ông và thơ ông bằng những cung bậc say mê và hàm súc nhất.
Em đã tới bờ sông giải phóng dòng sôngĐể đưa nó ra tận biểnEm đã tới khát vọng đã nên hình nên dạngNó đào sâu đêm tối ám nó vuốt ve những cái bóngXoá sạch bùn và xua tan băng
Gala, Nush, Dominique là ba khúc biến tấu của một bản tình ca bất tận, tạo nên tính liên tục của ngôn ngữ, tư duy và hành động thơ Eluard cũng như chính cuộc đời Eluard. Với ông, “thơ hiện hữu trong đời sống”, và cùng với Lautréamont, ông muốn nó hướng tới một chân lý thực tiễn cho mọi người, vì mọi người. Baudelaire có lần nói rằng thi ca đích thực là sự phủ định cái đồi bại (la négation de liniquité).
Không có sự đứt đoạn giữa thi ca và cuộc sống. Nhà thơ trước tiên và sau cùng phải là một con người chân chính sẵn sàng san sẻ khổ đau và hy vọng của con người để “cuối cùng một đám đông được tập hợp”, để những bức tường nhà có “một lớp da chung”, để “mọi ngã đường mãi mãi giao nhau”, để giấc ngủ “đầm đìa mộng mơ” và đêm tối lại hứa hẹn với bình minh những “cái nhìn tin cậy”. Tình yêu mở ra tình huynh đệ, tình người. Đáp lại yêu cầu của Lautréamont, “thơ phải được làm nên bởi mọi người chứ không phải bởi một người”, Eluard muốn tìm tới những điều kỳ diệu của “ngôn ngữ thuần khiết nhất”, “ngôn ngữ của con người đường phố và của nhà hiền triết, của đàn bà, con trẻ và người điên” .
Đó là thứ ngôn ngữ trần trụi và trong suốt, tuôn chảy tự nhiên, liền một mạch, không tẩy xoá, không nắn nót, không dấu nhấn, và thường khi không cần cả chấm câu, không cần cả sự rạch ròi, điều này khiến người đọc thơ ông như cuốn theo một hơi thở, một dòng chảy bất tận từng lúc toát ra những khoảng lặng của cái tĩnh lược và cái bí ẩn. Thơ ông xa lạ với những phù phép của ngôn từ, những biện pháp tu từ thường thấy, những hình ảnh, ẩn dụ xa xôi. Đơn giản đó là lời nói đang nói, gọi tên, chỉ định, liệt kê, lặp lại, nó sắp đặt hình ảnh và ý nghĩa như một nhà hoạ sĩ đang làm công việc cắt dán từ những hình dạng sẵn có để tạo ra những hình dạng mới. Ông không cần tới sự lưu loát, sự hùng biện, cả sự chặt chẽ trong cú pháp hay sự chắt lọc rợn người trong từ ngữ. Ông không nhắm tới một cấu trúc chặt chẽ mà đúng hơn một sự phá vỡ cấu trúc để ngôn từ, hình ảnh, ý nghĩa được bộc lộ tự nhiên và thoải mái, trần trụi và thuần khiết, tạo nên những cảm xúc trực tiếp nơi người đọc.
Từng bước đi của thơ Eluard, cũng như của cuộc đời ông, đưa ông tời gần cái tôi phổ biến, đúng ra chính thơ tình Eluard là nhịp cầu từ cái tôi mê sảng bắc qua bến bờ của tương lai, của hy vọng, của giấc mơ chung.
|
Người yêu Nàng đứng trên mí mắt tôi Và tóc nàng trong tóc tôiNàng có hình dạng đôi bàn tay tôi ve vuốtNàng có màu đôi mắt tôi nhìnNàng chìm khuất trong bóng tối lồng lộngNhư một hòn đá trên bầu trời. Nàng luôn mở mắtVà không để tôi ngủ yênNhững giấc mơ giữa ban ngày của nàngKhiến mọi mặt trời phải bốc hơiKhiến tôi hết cười đến khóc rồi lại cườiNói mà không có gì để nói. (1924)Paul Eluard |

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận