18/03/2007 10:19 GMT+7

Thế giới hàng giả (Kỳ 2): Giả, nhái hàng hiệu

LÊ THỌ
LÊ THỌ

TTCT - Cả thế giới lên cơn sốt dữ dội khi hải quan ở các nước phát triển chặn nhiều lô hàng giả, hàng nhái từ túi xách, quần áo, đồng hồ... thuộc hàng hiệu cao cấp và cả phụ tùng ôtô, máy bay, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước uống... có xuất xứ từ Trung Quốc (TQ), Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan... thậm chí cả ở một số nước châu Âu.

cWERPvQx.jpgPhóng to
Du khách chọn mua các loại đồng hồ giá rẻ nhái các nhãn hiệu nổi tiếng tại khu chợ đêm Petaling, Malaysia
TTCT - Cả thế giới lên cơn sốt dữ dội khi hải quan ở các nước phát triển chặn nhiều lô hàng giả, hàng nhái từ túi xách, quần áo, đồng hồ... thuộc hàng hiệu cao cấp và cả phụ tùng ôtô, máy bay, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước uống... có xuất xứ từ Trung Quốc (TQ), Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan... thậm chí cả ở một số nước châu Âu.

Kỳ 1: Thuốc giả, thuốc nhái...

Một công nghệ “toàn cầu hóa”

Việc sản xuất hàng giả, hàng nhái đã trở thành một ngành công nghiệp có qui mô lớn nằm rải rác khắp nơi. Có thể tìm thấy dễ dàng trên đường Nguyễn Trãi hay Nguyễn Đình Chiểu (TP.HCM) những áo thun từ xuất xứ trong nước đến Hong Kong, TQ, Thái Lan, Indonesia, Ý... với số lượng lớn, có giá thượng vàng hạ cám từ 60.000-300.000 đồng/chiếc, gồm các nhãn hiệu CK, Dolce & Gabbana hay Chanel, Versace... nổi tiếng. Ngay đồ chơi trẻ em, công nghiệp sản xuất hàng nhái, hàng giả tại TQ và Đông Nam Á đã chiếm tỉ lệ 80% trên thị trường thế giới, thu về hằng năm trên 4 tỉ đôla chứ không còn là hàng thủ công như xưa kia.

Ngay ở VN, một chủ tiệm chuyên mua bán môtô ở đường Lê Thánh Tôn (Q.1, TP.HCM) cho biết: thị trường xe Honda ở nước ta còn bát nháo hơn tất cả, nhái qua, nhái lại, pha tạp phụ tùng Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, TQ, VN... không thể nào kể xiết; muốn cỡ nào cũng có, đến độ chuyên gia của chính hãng cũng “le lưỡi” thán phục trình độ làm hàng giả hiện nay mà phần lớn phụ tùng linh kiện, bi-xích-líp đã được “nội địa hóa” một cách tích cực bằng kỹ thuật du nhập từ bên ngoài.

Giá một chiếc Honda giả, nhái có từ 5,2-12 triệu không kể cả giá cao ngất trời của một chiếc Dylan hay SH chính gốc Nhật là 7.000-8.000 đôla (tương đương giá một chiếc ôtô mới cỡ nhỏ ở Mỹ), trong khi hàng giả của TQ chào bán 30 triệu đồng (tương đương 1.600-1.700 đôla). Đúng như ông chủ kia nhận định “tiền nào của nấy”, chỉ có người mua là bị lừa chứ người bán thì rõ hơn ai hết. Nhãn hiệu ư? Muốn mẫu gì thì tặng ngay giấy đềcan chữ nấy, “dễ thôi” anh nói.

5OaTue0Q.jpgPhóng to
Hàng hiệu Levi’s tại một cửa hàng ở Hong Kong giảm đến 50%!?

Ngay tại TQ, cứ năm chiếc Yamaha đã có bốn là hàng nhái, tức 75% xe máy tại TQ là hàng giả hoặc nhái mà chính hãng này cũng phải bó tay. Bơm nước Ebara thành Ebora, máy cày nông cơ Kubota của Nhật có tên mới Gubota... là chuyện đã có hàng chục năm nay!

Từ sản phẩm công nghiệp nhẹ đến cơ khí như máy phay - bào - tiện, thổi nhựa, khuôn mẫu cho ngành bao bì, thực phẩm, in ấn, đúc... đều có tương tự các nhãn hiệu thế giới tại thị trường trung gian ở Hong Kong, Đài Loan hay các nước dung dưỡng và tiêu thụ hàng nhái ở khắp nơi.

Thật vậy, theo thống kê, hải quan châu Âu năm 2005 đã bắt được 75 triệu hàng nhái và hàng giả (năm 2004 là 103 triệu sản phẩm) với 60-70% có xuất khẩu từ TQ, nếu kể thêm các nước phụ cận (hàng TQ hay nhái của TQ qua ngõ nước khác) thì có loại gần như 90-100% hàng tiêu dùng là của “China” (xem bảng 1).

Danh sách hàng hiệu bị làm giả, nhái nhiều nhất là giày thể thao, túi xách phụ nữ, quần áo, đồng hồ, dụng cụ gia đình bằng điện (tủ lạnh, TV, video...), phần mềm máy tính, phim ảnh, đĩa DVD, VCD, thuốc lá, mỹ phẩm, đồ chơi trẻ em, nữ trang, thuốc chữa bệnh... với kim ngạch xấp xỉ 7-10% tổng kim ngạch thương mại thế giới, đạt mức 600 tỉ đôla (bằng 10 lần GDP của VN) và càng tăng theo hằng năm với tốc độ cao, vượt mức tăng trưởng GDP trên 10% của bản thân TQ, gấp ba lần (tức 300%) so với năm 2000 (kim ngạch hàng giả hàng nhái là 200 tỉ đôla).

Điều đó cho thấy hàng nhái hay hàng giả đã thành một ngành công nghiệp hùng mạnh góp phần đáng kể vào tăng trưởng ở những nước đang phát triển (kể cả TQ, Ấn Độ, Indonesia...) cũng như dần dà chiếm lĩnh thị trường khắp thế giới với xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới đang diễn ra một cách ào ạt.

MSFikly6.jpgPhóng to
TQ (Trung Quốc), VN (Việt Nam), HKG (Hong Kong), ĐL (Đài Loan), TNK (Thổ Nhĩ Kỳ), CND (Canada), TS (Thụy Sĩ), Ả Rập (Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất), Ch (Chile), GBT (Gibraltar), Ấn (Ấn Độ), Indo (Indonesia)

Giá hàng thật và giả chênh lệch hàng chục, hàng trăm lần

Qsng7e9y.jpgPhóng to
Các loại quần áo nhái hàng hiệu CK, Versace, Adidas, Nike... được bày bán tại khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, TP.HCM

Nhìn bảng so sánh về giá cả giữa hàng thật và hàng giả, nhái (xem bảng 2) của một số mặt hàng tiêu biểu tại chợ trời khắp nơi, chúng ta có thể thấy độ chênh lệch vô cùng lớn từ 300-1.000% và có khi hơn, tùy theo chất lượng và giá cả của hàng hiệu cao cấp!

Một chiếc áo thun nhãn hiệu Crocodile (cá sấu) có thể có giá 5-6 đôla nếu hàng giả đó được sản xuất tại Thái Lan, VN; nhưng sẽ là 3-4 đôla nếu ở Thượng Hải, Quảng Đông và sẽ là 60-90 đôla (hàng chính hiệu nếu mua tại Paris mà xuất xứ vẫn là “made in China” hay “made in Thailand”.

Điều này có nghĩa là chiếc áo thun “Crocodile” đó được chính hãng đặt sản xuất tại Thái Lan hay TQ ở nhà máy liên doanh (hay của chính hãng) nằm tại đây, nhưng dân buôn địa phương tuồn ra ngoài kỹ thuật để nhái, hoặc núp bóng dưới dạng phế phẩm... len vào thị trường chợ trời, bán dưới dạng “hàng tồn kho” như chúng ta đã thấy hiện tượng bán áo sơmi 15.000 đồng/chiếc trên đường Trần Hưng Đạo (TP.HCM).

nWviRptH.jpgPhóng to

(*) giá này chỉ là tương đối vì chợ trời thường rao giá gấp 5-10 lần giá bán, tùy theo sự trả giá khôn ngoan của khách và thị trường hàng giả ở mỗi nước.

(1) tại chợ Internet của TQ(2) chợ trời Washington (Mỹ)(3) chợ trời Thượng Hải, ngoài “Rolex” còn có “Ralex”,”Roleks” hay “Solex”... chỉ 3 euro/chiếc, sản lượng hơn 1 triệu chiếc/năm trong khi Rolex thật của Thụy Sĩ chỉ có 800.000/chiếc.(4) chợ trời Internet(5) chợ trời Quảng Đông(6-7-8) Internet Made-in-China, cùng một loại túi xách Louis Vuitton Canvas của TQ là 65.000 won (70 USD) trong khi của Hàn Quốc là 100.000 won (105 USD - cao cấp hơn)(9) chợ trời New York, ở Seoul là 450.000 won (106 USD) tùy vào loại da gì và 60% khách mua là giới du lịch Nhật(!!!)(10) chợ trời Hong Kong(11) chợ trời Sài Gòn, đủ loại hiệu nhái “Valentin”, “Valentino” made in Hong Kong, China... thuộc loại phế phẩm của các nhà máy gia công.(12-13) chợ trời Thượng Hải, trong khi chợ trời ở Bangkok chỉ có giá 3,5 euro/chiếc(4 USD).* Chợ trời quốc tế nguy hiểm nhất, thật giả, cũ mới lẫn lộn là mua bán trên Internet (như E-bay, Googlebay, iOffer, Rakuten...) 35% là hàng giả xuất xứ khắp nơi rao bán, một môi trường mua bán nguy hiểm hiện nay, đặc biệt loại hàng hiệu giả lên tới 90%!

* Hãng Christian Dior và Louis Vuitton buộc E-bay (mạng lưới buôn bán trên mạng) bồi thường 37 triệu USD vì bán hàng nhái hai thương hiệu này từ năm 2001-2005. Riêng Louis Vuitton đã phát hiện trên eBay 340 trang giới thiệu 235.000 sản phẩm Louis Vuitton giả.

Một thí dụ khác là loại đồng hồ Rolex cao cấp của Thụy Sĩ có giá 2.500-5.000 đôla/cái nhưng hàng nhái chỉ có giá 12 đôla tại chợ trời Thượng Hải, Quảng Đông; hay “xịn” hơn là loại Rolex Replica của TQ rao bán trên mạng có giá 250-270 đôla, không kể có loại chỉ có giá 3 euro/cái có thể tìm thấy dễ dàng ở chợ trời biên giới.

Sản lượng của Rolex thật (Thụy Sĩ) chỉ có 800.000 cái/năm trong khi sản lượng hàng nhái/giả của “Ralex”, “Roleks”, “Solex”... của TQ được ước tính hơn 1 triệu cái/năm. Đây là món hàng mà khách du lịch các nước, kể cả châu Âu, ưa chuộng nhất (!?), thường mua để làm quà. Chợ trời quốc tế nguy hiểm nhất, thật, giả, cũ, mới lẫn lộn là chợ mua bán trên Internet (như eBay, Googlebay, iOffer, Rakuten...) chiếm 35% hàng giả, trong đó hàng hiệu giả là 90% và thuốc chữa bệnh như Viagra (cường dương) giả là 60%.

Sự thiệt hại (thất thu) vì hàng giả, hàng nhái được ước lượng hằng năm tùy theo ở mỗi nước: năm 2005, tại Mỹ lên đến 200-250 tỉ đôla, Pháp 60-80 tỉ, Ý 40 tỉ... với các mặt hàng mà nhãn hiệu của nhà sản xuất ở nước đó bị “ăn cắp” hay thất thu và số công nhân bị mất việc tổng cộng lên đến 900.000-1 triệu người/năm.

Người ta phát hiện ngay trên chuyên cơ Air Force One (Boeing 747) của tổng thống Mỹ cũng có gắn phụ tùng giả trong số 1 tỉ đôla linh kiện máy bay giả trên thị trường nước Mỹ, chứ sá gì đến phụ tùng ôtô giả trị giá 12 tỉ đôla - một trong những nguyên nhân gây tai nạn chết người trên cao tốc ở Mỹ.

dRw4sgII.jpgPhóng to

Bảo hộ hàng chính hãng - quyền sở hữu trí tuệ một cách hợp lý

Việc sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng giả, hàng nhái bị xem là một hành vi phạm tội “có tổ chức” với khung hình phạt tùy theo số lượng, nhưng đều có lãnh án tù giam từ 3-10 năm kèm theo phạt tiền khi bị buộc thêm tội trốn thuế. Khung hình phạt này thay đổi tùy mỗi nước theo khuynh hướng ngày càng nặng hơn từ khi nó trở thành nạn dịch, với số lượng và mặt hàng ngày càng đa dạng và tăng theo cấp số 200-1.000%, tác động không nhỏ đến trật tự kinh tế thế giới.

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) và độc quyền kinh doanh nhãn hiệu cũng như bảo hộ thị trường hàng hiệu là vấn đề bức xúc buộc các nước phát triển phải có biện pháp mạnh để đối phó, đặc biệt là Mỹ, Pháp, Ý, Đức, Nhật... là các nước có nhiều mặt hàng cao cấp và phổ cập trên toàn thế giới.

GS Trần Hữu Dũng tóm tắt: “Ở cấp vĩ mô, vấn đề QSHTT trở nên nóng phần lớn là do đòi hỏi của các nhà sản xuất, nhất là của các công ty đa quốc gia vì nhiều thúc bách”, vì “SHTT là một lợi thế độc quyền ngày càng quan trọng khi những lợi thế khác (như khả năng chia cắt thị trường) ngày càng yếu, đa số nghiên cứu phát minh ngày càng tốn kém trong khi sao chép, mô phỏng ngày càng dễ dàng”. Cho nên “đối với đa số các nước phát triển, QSHTT là cần thiết”, trong khi đối với các nước đang phát triển thì việc thực thi chặt chẽ QSHTT sẽ gây cản trở cho sự phát triển...

Nếu khả năng bắt chước kém thì thắt chặt QSHTT sẽ không làm thay đổi mức sản xuất trong nước... Còn nếu khả năng này là cao thì thắt chặt QSHTT cho nước ngoài sẽ tạo thêm chướng ngại cho các nhà sản xuất trong nước, do đó dễ ảnh hưởng nhiều đến khối lượng ngoại thương, tức tác động trực tiếp lên ngành công nghiệp sản xuất hàng nhái, hàng giả để xuất khẩu như thực tế ở TQ cũng như chính sách thu hút (FDI) đầu tư trực tiếp của nước ngoài (xem bảng 4 và 5).

Xb4yCIr7.jpgPhóng to

Từ năm 1996, những nước này đã bắt đầu có những chương trình hành động bảo hộ QSHTT ngày càng quyết liệt đối với thị trường và các quốc gia “sản xuất, nuôi dưỡng”(?!) hàng giả, hàng nhái. Đặc biệt là đối với TQ, nước được xem là “nhà máy” sản xuất hàng giả, hàng nhái lớn nhất thế giới, khi TQ vào WTO năm 2001.

Theo điều tra của Tổ chức Chống hàng giả thế giới, TQ là nước “có đủ kỹ thuật, vốn và nhân lực để sản xuất mọi loại hàng giả, hàng nhái” với 3-5 triệu người tham gia công nghiệp sản xuất hàng giả và là nước đứng đầu về kim ngạch, khoảng 20-40 tỉ đôla, chiếm 8% GDP của TQ và tương đương 15-30% sản lượng công nghiệp! Kế tiếp là một số nước Đông Nam Á (Thái Lan, Indonesia, VN...), Nam Á (Ấn Độ, Pakistan...), Đông Âu cũ và châu Mỹ Latin (xem bảng 4). Không kể bản thân các nước phát triển cũng có công nghiệp làm hàng giả tuồn qua nước láng giềng như Ý, Thụy Sĩ... mà biên giới là nơi “họp chợ” dễ dàng... trong đó 2/3 là hàng có xuất xứ TQ.

2yAYyYDF.jpgPhóng to

Vì sao hàng giả, hàng nhái phát triển thành nạn “dịch”?

Một câu hỏi quan trọng: tại sao thị trường tiêu thụ hàng giả vẫn tồn tại và phát triển? Theo điều tra của tạp chí Nghiên Cứu Thị Trường (Nhật), 60% thanh niên Nhật vẫn thích dùng “hàng hiệu rẻ tiền” hoặc có 1-2 lần mua hàng giả. Báo cáo của Hội Tiêu dùng Ý cho biết ít nhất là ba trong bốn người Ý dùng hàng hiệu, hàng nhái (giày, túi xách...).

Ngay ở nước Pháp là nơi sản xuất nhiều hàng hiệu, 70% phụ nữ Pháp vẫn đã có một lần dùng hàng nhái (áo thun, đồng hồ, đĩa CD, túi xách...) và 35% người Mỹ mua 4-5 sản phẩm giả, còn 51% người Đức mua 3-5 sản phẩm giả hoặc nhái! Trong khi đó theo Interpol, 90% phần mềm máy tính sử dụng tại TQ là hàng giả! Lý do đã rõ: chênh lệch về giá giữa hàng chính gốc và hàng giả, hàng nhái.

Bởi vì “xài 10 áo thun hàng giả mới bằng một cái thật, thế thì dại gì không sử dụng”. Điều đó cũng cho thấy mặt trái của vấn đề: hàng thật, chính hiệu có giá đắt đến phi lý vì các nhà sản xuất sở hữu thương hiệu tìm cách nâng giá hàng của mình thật cao, trong khi giá gốc thì tương ương hay nhích hơn không nhiều so với hàng nhái, hàng giả. Người tiêu dùng không đủ khả năng mua hàng thật phải chạy theo hàng nhái/giả và điều này là dễ hiểu.

Tóm lại, công nghiệp sản xuất hàng giả, nhái ngày càng tinh vi, tinh xảo và “có chất lượng” có thể thỏa mãn được người có thu nhập trung bình hay thấp trong xã hội phát triển và càng trở nên phổ cập ở các nước nghèo.

Vì vậy khi gặp chiến dịch dẹp bỏ của chính quyền trước áp lực của công luận thì chúng tìm cách tẩu tán sản phẩm, cơ xưởng ra nước ngoài để tìm một C/O khác (C/O = certificate of origin = chứng từ xác nhận xuất xứ của hàng hóa trong thủ tục xuất nhập khẩu) nhằm né tránh sự kiểm soát của thuế quan và hàng rào chống buôn lậu, hàng nhái, hàng giả của các nước phát triển, thành lập nhà máy liên doanh hay đầu tư trực tiếp ở những nước đang kêu gọi đầu tư (như nước ta), đồng thời được hưởng thêm những ưu đãi và bảo hộ mới của nước tiếp nhận!

(còn tiếp)

LÊ THỌ
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất