
GS Nguyễn Đức Khương cho rằng Việt Nam không thể chậm trễ trong chuyển đổi mô hình kinh tế - Ảnh: AVSE
Nghị quyết 19-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển Việt Nam, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm những động lực mới.
GS Nguyễn Đức Khương, Đại học Cambridge, Chủ tịch AVSE Global, chia sẻ với Tuổi Trẻ về những trụ cột của quá trình chuyển đổi này.
Chúng ta không được phép chậm hơn thế giới
* Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã nhiều lần điều chỉnh mô hình tăng trưởng. Vì sao lần này yêu cầu chuyển đổi lại trở nên cấp thiết hơn?
- Thực tế, việc thay đổi mô hình tăng trưởng đã được chúng ta thực hiện rất nhiều năm và khá thường xuyên. Chúng ta đã liên tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ thâm dụng tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người và vốn sang tìm cách giảm đóng góp của các yếu tố đó bằng sử dụng nhiều công nghệ tốt hơn, sạch hơn và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Hiện nay, Việt Nam đang tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, có rất nhiều doanh nghiệp liên quan đến các công nghệ mới, đi vào ngành công nghệ sâu, công nghệ lõi của thế giới.
Việc đổi mới sáng tạo đang giúp chúng ta chuyển dịch từ mô hình thâm dụng tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và vốn sang mô hình sử dụng nhiều tri thức hơn với con người thông minh, kỹ năng ngành và năng suất tốt hơn.
Không những vậy, chúng ta còn có những đổi mới trong vận hành cơ quan, tổ chức. Chúng ta đang đi đến nền kinh tế tri thức và khoa học - công nghệ được sử dụng nhiều.
Việt Nam giai đoạn này không được cho phép mình chậm hơn thế giới nữa. Bởi một khi đi chậm thì chúng ta phải liên tục bám đuổi.
* Theo ông, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn nào?
- Thực ra đây là thách thức chung của tất cả các quốc gia không riêng Việt Nam. Chúng ta đang trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) tác động nhiều đến nền kinh tế, thói quen tiêu dùng, cách chúng ta lao động, cách chúng ta vận hành xã hội.
Trí tuệ nhân tạo như một công nghệ đặt tất cả các quốc gia gần như cùng vạch xuất phát. Một số quốc gia có lợi thế hơn về nền tảng công nghệ, nhưng đây là bài toán mới cho tất cả các nước. Việt Nam giai đoạn này không được cho phép mình chậm hơn thế giới nữa. Bởi một khi đi chậm thì chúng ta phải liên tục bám đuổi.
Bên cạnh đó, với tầm nhìn và mục tiêu năm 2045 trở thành nền kinh tế có thu nhập cao, chúng ta phải xử lý thách thức nhanh, quyết liệt và hiệu quả hơn các quốc gia khác. Như vậy chúng ta mới có khả năng vươn lên, trở thành xã hội có thu nhập cao, ổn định, thịnh vượng và công bằng.
Thách thức đổi mới mô hình tăng trưởng còn đến từ mục tiêu của cả nước, vì toàn dân, chứ không chỉ đến từ bối cảnh khoa học công nghệ thay đổi nhanh chóng hay kinh tế thế giới bất ổn.
Công nghệ có thể mua, con người thì không
* Trong cuộc chuyển đổi này Việt Nam đang có cơ hội hay lợi thế gì, theo ông?
- Cơ hội đang dành cho tất cả mọi người trong bối cảnh công nghệ trí tuệ nhân tạo, công nghệ số đang buộc các quốc gia đầu tư nhiều hơn vào khoa học - công nghệ. Chúng ta buộc phải nghiên cứu và phát triển để tạo ra những ứng dụng, sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu kinh doanh mà còn đáp ứng nhu cầu xây dựng xã hội văn minh, hiện đại và công bằng.
Thách thức đến từ việc chúng ta muốn có một quốc gia thông minh, phát triển, thịnh vượng thì chúng ta phải có những nền tảng rất tốt. Nền tảng này đã được Đảng và Nhà nước xác định xuyên suốt là khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Muốn có nền tảng này thì chúng ta phải có con người tốt. Con người thông minh kết hợp với tính kỷ luật cao, khả năng liên kết và hội nhập quốc tế lớn thì chúng ta mới có cơ hội để thu hút được nhiều nguồn lực từ bên ngoài. Các nguồn lực này bao gồm cả nguồn lực công nghệ, phương tiện vật chất, tài chính và con người.
Khi Việt Nam trở thành điểm hội tụ các nguồn lực trong tương lai thì chúng ta đã có 50% thắng lợi.
Phần còn lại phụ thuộc vào việc chúng ta kết hợp các nhân tố sản xuất như thế nào để tăng được yếu tố năng suất lao động tổng hợp - kết hợp giữa công nghệ, con người, tri thức, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo.
* Nghị quyết 19 của Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phát triển các nhân tố sản xuất, nhất là vốn, đất đai, khoa học, công nghệ, dữ liệu và lao động chất lượng cao theo hướng đồng bộ, hiện đại, minh bạch, liên thông. Nguồn nhân lực có vai trò ra sao, thưa ông?
- Câu chuyện con người được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những đột phá quan trọng của Việt Nam. Trong những năm gần đây, chúng ta rất đẩy mạnh câu chuyện này, không chỉ thu hút được chuyên gia tài năng từ bên ngoài mà còn cả người Việt ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.

Đổi mô hình tăng trưởng, Việt Nam cần những động lực mới - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Hiện nay Việt Nam cũng đang đổi mới mô hình phát triển đại học, mô hình giáo dục mới, cập nhật những yêu cầu từ thay đổi về công nghệ trong các chương trình đào tạo các cấp. Như vậy, sinh viên sau khi ra trường có thể tiếp cận ngay với thị trường, vấn đề của doanh nghiệp.
Công nghệ có hiện đại đến đâu chúng ta cũng mua được bằng những nguồn tài chính khác nhau, nhưng năng lực của quốc gia, năng lực của lực lượng lao động thì không thể nhập khẩu được. Điều đấy chúng ta phải tự xây dựng. Chúng ta cũng phải tranh thủ đòn bẩy từ các nguồn nhân lực nước ngoài khác.
Việt Nam đang ở giai đoạn phải chiến thắng trên nhiều "mặt trận"
* Ông nhấn mạnh vai trò của nguồn lực con người. Tuy nhiên thời gian gần đây có nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn được công bố nhưng rất ít dự án lớn dành cho xây dựng nguồn lực nhân tài?
- Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn chúng ta phải chiến thắng trên nhiều "mặt trận", trong đó có "mặt trận" cơ sở hạ tầng chiến lược. Bởi vì đấy là mạch máu kết nối các địa phương, các khu vực kinh tế khác nhau của cả nước. Với địa lý Việt Nam trải dài từ bắc xuống nam thì cơ sở hạ tầng chiến lược vô cùng quan trọng.
GS Nguyễn Đức Khương
Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn chúng ta phải chiến thắng nhiều mặt trận, trong đó có mặt trận cơ sở hạ tầng chiến lược. Với địa lý Việt Nam trải dài từ bắc xuống nam thì cơ sở hạ tầng chiến lược vô cùng quan trọng.
Nhà ga, bến cảng, sân bay, đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao,... là những hạ tầng cơ bản để chúng ta thu hút được nguồn lực tài chính, chuyên gia quốc tế, doanh nghiệp, tập đoàn toàn cầu đến làm việc với Việt Nam. Thiếu cơ sở hạ tầng thì họ sẽ không đến đầu tư vốn, xây dựng phát triển doanh nghiệp hay có chiến lược dài hạn với nền kinh tế Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực lại cần sự phát triển bài bản và cần thời gian.
Câu chuyện "trồng người" không thể một sớm một chiều mà xong. Chúng ta thấy Chính phủ đầu tư vào giáo dục và đào tạo với lộ trình tiến dần lên.
Tôi cho rằng những năm tới sự đầu tư và thay đổi của khối đào tạo đại học, phổ thông,... sẽ có những thay đổi cơ bản để kiến thức và chương trình cập nhật với chuẩn quốc tế. Từ đó sẽ giúp sinh viên Việt Nam khi ra trường có đầy đủ kỹ năng nguồn lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong nước và các tập đoàn quốc tế.
Hai việc trên đều đang rất ưu tiên, nhưng vấn đề trước mắt ngay lập tức chúng ta phải có hạ tầng cứng. Bên cạnh đó chúng ta cần có cả hạ tầng mềm về Internet, kết nối thông minh, dữ liệu,...
Thay đổi trong hệ thống giáo dục đào tạo cần thời gian nhiều hơn. Tính ưu tiên của đào tạo nguồn nhân lực không mất đi. Khi chúng ta muốn tạo ra năng lực cạnh tranh cho Việt Nam trong trung và dài hạn thì buộc phải tập trung vào câu chuyện nhân lực.
Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp phải thành một hệ sinh thái
Sự phối hợp giữa 3 nhà gồm Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp cần trở thành hệ sinh thái. Chỉ khi là hệ sinh thái thì mới có thể gắn bó mật thiết với nhau, cộng hưởng và tạo ra giá trị.
Trong những hội thảo chúng ta có những giáo sư, chuyên gia hàng đầu về kinh tế có thể hiểu được ngôn ngữ khoa học. Họ nắm rất rõ sự vận hành của những nghiên cứu đã và đang diễn ra.
Họ chính là những cây cầu nối để những nhà hoạch định chính sách có được những đầu vào về kiến thức, chuyên môn. Sự có mặt của 3 nhà không nhất thiết phải tại các sự kiện trực tiếp.
Khi các chuyên gia, nhà kinh tế tham dự các hội thảo, họ sẽ đem những thảo luận đó vào các cuộc họp chính sách. Như vậy sự kết hợp diễn ra đằng sau hệ sinh thái đấy.
Thứ nữa, chúng ta phải tư duy lâu dài. Việc hoạch định chính sách không chỉ ngày một ngày hai mà cả lộ trình hàng trăm, hàng nghìn năm của một quốc gia.
Những hội thảo khoa học sẽ có nhiều nhà khoa học là giảng viên, giáo viên tại các trường đại học tham gia. Họ có tương tác với sinh viên - là những người chủ tương lai của đất nước.
Sẽ có những người sau này đi vào khu vực chính sách công. Việc có những nền tảng chuẩn bị tốt sẽ giúp họ làm chính sách tốt hơn.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận