Thứ 6, ngày 17 tháng 9 năm 2021

Nửa mình ở lại, đi nốt quãng đời...

28/03/2014 09:32 GMT+7

TT - Là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, vở kịch lớn như: Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô... nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ cho văn học nước nhà.

Kỳ 1: Mối tình đầu tiên và cuối cùng

PAk6BdZm.jpgPhóng to
Vợ và các con của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng - Ảnh tư liệu gia đình

Nhưng phía sau những sáng tác đồ sộ ấy, không chỉ khi ông còn sống mà cả về sau này, người góp phần gìn giữ, nâng niu những trang viết của ông chính là người vợ hiền Trịnh Thị Uyên.

Tháng năm gắn bó...

Đến với nhau năm 1939 khi Nguyễn Huy Tưởng 27 tuổi và bà Trịnh Thị Uyên vừa 18 tuổi. Hai bên có thể coi là môn đăng hộ đối. Ông là con cụ tú Nguyễn Huy Liễn, một nhà nho bất đắc chí, có chút đỗ đạt nhưng không ra làm quan. Bà là con cụ Trịnh Sĩ Trinh, đỗ cử nhân luật rồi được bổ làm quan, khi tri huyện, khi quan phủ. Ông theo Tây học, đậu thành chung rồi kiếm được chân thư ký sở đoan (sở thuế quan) Hà Nội. Bà con nhà khuê các, được học hành chữ nghĩa và những gì thuộc lễ giáo, gia phong.

Sau đám cưới, hai vợ chồng son về sống tại một căn nhà thuê ở phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân, Hà Nội). Hạnh phúc của họ đã được nhà văn tương lai thuật lại cặn kẽ trong những trang nhật ký có nhan đề Ký sự một tháng tân hôn. Trên cả tình ái, ông nhận thấy ở bà “một kho tàng tính tốt, sẵn dạ hi sinh và chỉ biết có một điều: yêu chồng và thành thực theo chồng”.

Chưa hết tháng tân hôn, ông bị sở bắt đổi xuống đất cảng Hải Phòng. Bắt đầu từ đây là cuộc đời gần ít xa nhiều của hai ông bà. Thời gian đầu bà còn hay xuống được với ông dưới Hải Phòng, chia sẻ với ông cuộc sống khá là tạm bợ. Nhưng rồi hai ông bà có con gái đầu lòng rồi đứa thứ hai, bà đành ở lại Hà Nội nương nhờ cha mẹ để lo cho con nhỏ. Đến lúc ông được chuyển lại lên Hà Nội cũng là lúc Thế chiến thứ hai đang giai đoạn ác liệt, bà phải theo gia đình đi tỉnh xa để tránh máy bay Đồng minh ném bom Hà Nội nhằm triệt phá quân Nhật. Rồi ông tham gia công tác xã hội - hướng đạo, truyền bá quốc ngữ, hoạt động Việt minh... Hoàn cảnh buộc ông phải giữ bí mật với bà nên ông đi đâu, làm gì, bà không thể biết. Đến khi cách mạng thành công, ông chính thức trở thành một cán bộ Việt minh quan trọng thì công việc cũng luôn đòi hỏi ông phải đi suốt...

Hòa bình lập lại hai ông bà trở về Hà Nội, nhưng cũng chẳng mấy khi bà được ở gần chồng. Đến khi ông được thôi công tác lãnh đạo văn nghệ để chuyên tâm sáng tác, thì lại có yêu cầu đi “thực tế” đời sống sau vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm. Cùng Nguyễn Tuân, Văn Cao... Nguyễn Huy Tưởng đi tham gia lao động ở Điện Biên gần nửa cuối năm 1958. Trở về sau chuyến đi, ông gặp vấn đề về sức khỏe. Ông cảm thấy đau người, khó ở, đến lúc không chịu được nữa phải đi bệnh viện mới biết mình có cái u ở phổi. Ông ra đi một ngày tháng 7-1960, để lại người vợ 39 tuổi và sáu đứa con, cùng tất cả sự lỡ dở của đường đời, đời văn và cuộc sống gia đình. Ngay đến việc đưa vợ con ra hiệu chụp một tấm ảnh gia đình mà ông đã định cũng không kịp thực hiện!...

Nửa mình ở lại...

Cái chết của ông như một nhát cắt phũ phàng cắt ngang cuộc đời bà. Điều duy nhất khiến bà không bị quỵ ngã có lẽ chỉ là những đứa con ông để lại cho bà, trong đó có tôi, đứa con trai duy nhất mà ông chăm chút hơn cả bản thân mình. Sau thời gian đầu sống lặng lờ như chiếc bóng, bà dần định thần trở lại, trước hết do bản năng tồn tại. Đầu tiên là xin việc đi làm để có tiền nuôi con (hồi còn ông, bà chỉ ở nhà lo việc nội trợ). Rồi ổn định cửa nhà, xin cho con đi học - con nhà văn không thể thất học được. Tiếp đến là lo bảo quản những gì ông để lại. Sách vở, bản thảo, sổ tay, bà xếp tất cả cho vào tủ khép lại. Có khóa đấy nhưng bà không khóa vì còn để cho con nó biết chứ. Phim, ảnh bà xếp lại với nhau, giữa các tấm đều có giấy lót để chống dính, rồi bọc giấy đen cho vào hòm kín để khỏi mờ.

Riêng các tập nhật ký của ông - có đến 40 tập lớn nhỏ - bà xếp hết vào một chiếc vali con. Những khi bà nhớ quá lại giở ra xem để được sống lại những năm tháng cùng ông. Đây là một câu ông viết về nỗi nhớ bà, hồi mới phải tạm chia xa: “Nhớ người lặng lẽ như cái bóng, êm đềm như bông, ngây thơ như trẻ. Em Uyên! Không bao giờ ta thấy yêu em, nhớ em như chiều hôm nay”. Vậy mà giờ đây bà phải xa ông, không phải một chiều, một ngày, một tháng, một năm mà là vĩnh viễn! Chẳng còn có thể giãi bày với ông những nỗi niềm chứa chan trong lòng. Bà cũng hay nhớ lại và tự giận mình về cái tính rụt rè. Bà rất ngại viết thư cho ông, chung quy cũng chỉ vì sợ mình ít học, viết không nên câu, xem thư ông lại cười cho. Ông cứ phải nói mãi, thậm chí làm mặt giận bà mới đánh bạo viết cho ông một lá thư. Đắn đo mãi, cuối cùng bà mới dám viết ở lời đầu thư một chữ “yêu”... Gửi thư đi, bà còn băn khoăn mãi viết như thế liệu có phải không. Giờ đọc nhật ký của ông, bà mới hay mấy lời ấy khiến ông thích biết bao. Ông đã dán lá thư của bà giữa những trang nhật ký, và tự hào ghi, sau khi chép lại câu đầu thư của bà: “Anh rất yêu quý - nàng yêu tôi biết bao”.

Đi nốt quãng đời...

Năm 1963, Nhà xuất bản Văn Học làm tuyển tập kịch Nguyễn Huy Tưởng. Đương nhiên trong đó có tác phẩm Vũ Như Tô mà bà biết ông đặc biệt tâm đắc. Bà cũng biết ông rất thích lời đề tựa vở kịch mà ông viết từ lâu nhưng chưa công bố, cho đến khi đó vẫn được dán vào trang đầu một cuốn in từ năm 1946. Không chút băn khoăn, bà đã giới thiệu lời đề tựa đó với nhà xuất bản và thật mừng vì được họ chấp nhận.

Một mối quan tâm đặc biệt của bà là những tập nhật ký của ông. Mặc dù vẫn biết trong đó có nhiều chỗ riêng tư, cũng như nhiều chỗ “nhạy cảm”, “phức tạp”, nhất là về cải cách ruộng đất, về Nhân Văn - Giai Phẩm, bà vẫn đặt niềm tin vào sự chân thành của ông, vào thiện ý toát ra qua những trang riêng tư ấy. Vì thế, bà vẫn để cho con cái đọc, để con được biết sự thật, trước hết về cha chúng. Song đến một lúc nào đó, bà bắt đầu biết “sợ”. Liệu những trang nhật ký đó sẽ ra sao khi lọt vào tay người có dụng ý xấu. Đành rằng bà đã cho tất cả vào một chiếc vali nhỏ, luôn để trong tầm tay để sẵn sàng mang theo người. Nhưng bấy giờ đương thời buổi chiến tranh, máy bay Mỹ ném bom Hà Nội bất cứ lúc nào, ngộ nhỡ bom rơi, nhà đổ, người cũng chẳng được yên mà lo cất giữ. Thôi thì phòng trước vẫn hơn.

Thế là bà lấy kéo cắt ở một số trang những đoạn bà cho là “nặng” nhất, có thể có hại cho ông nếu lọt ra ngoài. Cắt xong, yên tâm về phần “chính trị”, bà lại thấy không yên tâm khi không bảo toàn được di sản của chồng. Bà biết ông coi tác phẩm như những đứa con - con tinh thần như người ta vẫn nói. Mà những trang nhật ký mang đầy tâm huyết của ông thì cũng khác nào! Cuối cùng, thay vì hủy bỏ, bà để những đoạn nhật ký cắt ra đó vào giữa trang giấy, những quyển sách, những tập bản thảo khác nhau, âu đành phó mặc cho số phận...

Làn gió đổi mới mát lành đã định lại nhiều giá trị, đồng thời tạo điều kiện cho nhiều nhân tố mới được bộc lộ, trong đó có các trang hồi ký, nhật ký của nhiều nhà văn. Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, với tính chân thật nổi trội, ngày càng được sự quan tâm của công chúng. Khi hoàn cảnh cho phép, người viết bài này đã mạnh dạn xin phép mẹ cho công bố nhật ký của cha. Phương châm là cố gắng đưa ra hết những gì có thể. Mà muốn vậy trước hết phải đảm bảo được tính toàn vẹn của nguyên bản. Trong quá trình tập hợp nhật ký của cha mình, tôi đã lần tìm được cả những đoạn nhật ký từng bị cắt ra để lẫn giữa nhiều giấy má khác. Từ nguồn nguyên liệu ấy, tôi đã biên soạn thành ba tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, tổng cộng khoảng 1.700 trang in. Giờ đây, bộ nhật ký đã cấu thành một phần không thể thiếu trong sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, bên cạnh các trước tác như kịch Vũ Như Tô với lời đề tựa tâm huyết của tác giả, tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô cũng do chính mẹ tôi giao bản thảo cho các bạn văn của cha tôi đưa in... Trong suốt cuộc đời của cha mình và cả khi ông đã đi xa, ông đã thật may mắn có được bà chăm lo gánh vác. Cho ông và cho sự nghiệp của ông...

_________________

Kỳ tới:Hậu phương của “Hắc đại sứ”

NGUYỄN HUY THẮNG
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận