07/05/2009 14:06 GMT+7

Những ngày xẻ dọc Trường Sơn (tiếp theo)

Thiếu tướng PHÙNG ĐÌNH ẤM (Nguyên Đoàn phó B90)
Thiếu tướng PHÙNG ĐÌNH ẤM (Nguyên Đoàn phó B90)

TTO - Sau lớp học Nghị quyết 15 ở nhà lầu Hoàng Cao Khải, tôi và đồng chí Phạm Lạc, Thượng úy Tiểu đoàn phó của Sư đoàn 330, nguyên là công nhân cao su đồn điền miền Đông, một đại đội trưởng từng chiến đấu ở Biên Hòa - Nam bộ về nhận công tác ở đoàn độc lập ấy.

p76J3iS0.jpgPhóng to

Đó là đoàn B90, chính thức được thành lập ngày 25-05-1959, gồm đủ thành phần Nam bộ, Liên khu 5, có Kinh có Thượng, do đồng chí Trần Quang Sang nguyên là Tiểu đoàn phó, Phó khoa Dân tộc thiểu số Đông Nam bộ, hiện là cán bộ Ban Thống nhất Trung ương làm Trưởng đoàn. Tôi (Phùng Đình Ấm) và Phạm Lạc làm Phó trưởng đoàn. Cán bộ, chiến sỹ về đây gồm 25 người được lựa chọn từ các đơn vị bộ đội miền Nam tập kết, từng chiến đấu ở Đông Nam bộ, Nam Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia.

Về tiêu chuẩn lựa chọn ngoài đức, tài còn có một tiêu chuẩn khá đặc biệt: “không có gia đình và người yêu ở miền Bắc”. Với tiêu chuẩn này có một câu chuyện đầy cảm động. Thượng sỹ y tá Trần Văn Thời, một thanh niên trẻ tuổi nhất trong Đoàn B90, anh thổ lộ cho biết: thời gian đóng quân ở xứ Thanh, đã từng hẹn biển thề non với cô thôn nữ mà anh cho rằng khó kiếm được người thứ hai như vậy. Tình yêu hai người cận kề ở ngưỡng cửa hôn nhân, thì được lệnh về miền Nam chiến đấu.

Anh đặt lên bàn cân lý trí và tình cảm để cân nhắc và trải qua mấy đêm trường dằn vặt, tính toán, cuối cùng anh tạm gác lại tình riêng để chọn con đường chiến đấu vì miền Nam ruột thịt. Anh đành gạt nước mắt để chia tay với người thôn nữ mà anh cho rằng chỉ có một trên đời mà anh vừa, bằng tất cả lý do anh bịa ra để giữ bí mật cho chủ trương của Đảng.

Anh cảm thấy mình có lỗi với nàng vì đã đưa ra những lý do giả dối mà anh cho rằng thiếu tính thuyết phục. Nhưng, không còn cách nào khác và anh đã nghẹn ngào dứt áo ra đi, mang theo bên mình mối tình sâu đậm. Anh mong đến ngày thắng lợi hoàn toàn, nước nhà thống nhất, anh trở về xứ Thanh tìm lại người yêu tạ tội cùng nàng. Anh kể lại tôi nghe câu chuyện tình cảm của mình vừa nghẹn ngào nhưng cũng vừa thanh thản, bởi anh ra đi vì một sứ mạng cao cả của người chiến sĩ.

Rất tiếc cái ngày trở lại xứ Thanh của anh không còn nữa. Trần Văn Thời đã dũng cảm hy sinh trong chuyến vượt sông mùa lũ để tìm bắt liên lạc với cánh mở đường phía Nam ở vàm sông Đăk R’Tih - Đồng Nai Thượng, trước ngày con đường hành lang Nam - Bắc do Đoàn B90 phụ trách được khai thông chừng vài tháng. Anh là người liệt sĩ đầu tiên của Đoàn B90 trong sự nghiệp mở đường cuối dãy Trường Sơn.

Gần đến ngày lên đường đồng chí Phạm Kiệt, Cục trưởng Cục Bảo vệ, Tổng cục Chính trị đến kiểm tra công việc chuẩn bị. Theo qui định tất cả những gì lưu lại dấu vết của miền Bắc như những quyết định cán bộ, bằng khen, giấy khen, huân huy chương, quân hàm, quân hiệu, hình ảnh tập thể và cá nhân mặc quân phục đều gởi lại kho lưu trữ của Tổng cục Chính trị.

Chúng tôi nói đùa với nhau: ngày xưa Mạnh Lệ Quân “thoát hài”, còn bây giờ chúng ta “thoát hình”. Đến trạm giao liên ranh giới giữa miền Nam và miền Bắc, tất cả quân phục đều trút bỏ lại. Trang phục lúc bấy giờ đầu đội mũ “hướng đạo” to vành, mình mặc quần áo bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, lưng mang “xắc cà đô”, chân đi dép lốp - một kiểu của du kích miền Nam.

Vũ khí trang bị cho mỗi người hai khẩu súng, một súng ngắn colt 12, một tiểu liên giảm thanh, tiểu liên tuyn hay carbine báng gấp, với hai cơ số đạn cho mỗi khẩu. Cùng với chiếc võng kaki, tăng móc, vải nhựa đi mưa, gạo, thực phẩm, lương khô ăn đường… tất cả hạn chế trọng lượng trên vai mỗi người không quá 20kg.

Đêm đêm, chúng tôi phải tập hành quân bộ với vũ khí và hành trang của mình để rèn luyện sức chịu đựng của người lính sau mấy năm sống trong hòa bình. Riêng tôi, ngoài số trang bị qui định chung, tôi “xé rào” mang theo ba thứ cần thiết, đó là: bức ảnh Bác Hồ dệt bằng lụa của Trung Quốc bọc trong giấy nhựa (về sau, đến chiến trường bức ảnh đã trở thành báu vật, hiện nay tôi đã tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP.Hồ Chí Minh).

Vật thứ hai là tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu, để giảm trọng lượng, tôi đã phải cắt bỏ giấy thừa xung quanh, chỉ giữ lại cái lõm có chữ in những bài thơ, những vần thơ đã động viên tôi sau những ngày hành quân mệt nhọc, lội suối trèo đèo. “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim, Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đượm hương và rộn tiếng chim”. Tố Hữu đã ru tôi những phút thư giãn, khi dừng chân trên đỉnh Trường Sơn.

Thứ ba là quyển vở học tiếng M'Nông. Được Ban Thống nhất Trung ương cho biết, địa bàn về miền Nam hoạt động của tôi là vùng rừng núi thuộc sắc tộc M’Nông. Tôi ra chợ Đồng Xuân mua quyển sổ 13x19 và ghi ở trang đầu dòng chữ: “Học tiếng, là một công tác”. Trong đoàn có đồng chí Kpă Ngãi, dân tộc H’Roi thạo tiếng M’Nông, tôi quyết tâm học hỏi đồng chí ấy.

Trên đường Trường Sơn, vừa hành quân vừa học tiếng, mỗi ngày tôi thuộc ba từ M’Nông, khi đến nơi đặt ba lô xuống tôi có thể bập bẹ giao dịch với đồng bào M’Nông. Trong những năm đầu chống Mỹ, đồng bào ba biên giới rất mến và tin tưởng tôi nhờ thông qua ngôn ngữ. Các già làng bảo tôi: “Mày là con của người M’Nông!”.

(còn nữa)

Thiếu tướng PHÙNG ĐÌNH ẤM (Nguyên Đoàn phó B90)
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất