Phóng to |
Đó là lý do tại sao việc cải cách toàn diện ngành giáo dục “phải là công trình của một ngành nghề biết tự tổ chức và tái tạo lại chính mình”. Việc xây dựng hệ thống trường học là một quá trình diễn ra liên tục.
Kết quả của quá trình chỉ đạo và giáo dục phụ thuộc cơ bản vào thái độ của những giáo viên trong mối quan hệ với học sinh của mình. Giáo viên có một khả năng tiềm ẩn, đó là khả năng “khiến học sinh biết được thẩm quyền của mình”. Cho nên, giáo viên phải nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ của mình, để làm cho học sinh tôn trọng họ. Thông qua lời nói và cử chỉ, “những tư tưởng đạo đức lớn của thời đại và của đất nước mà giáo viên là người dẫn giải”sẽ được truyền tải từ nhận thức của giáo viên sang của học sinh. Những lời nói và cử chỉ đó phải do giáo viên hình dung ra.
Thực hiện được điều cũng, đòi hỏi phải có một “văn hoá tâm lý” cho phép giáo viên quyết định thái độ phù hợp khi thực hiện sứ mạng của mình. Các mô hình sư phạm phải tính đến tâm lý của trẻ em, bởi tâm lý đó cho ta thấy nhiều điều, ví dụ, trẻ về cơ bản không thể ích kỷ, cũng không vị tha, mà phải “hội nhập một cách tự nhiên vào cộng đồng”. Đây là phẩm chất bất cứ giáo viên nào cũng cần biết cách sử dụng. Những mô hình như vậy cũng phải dựa trên những nghiên cứu về các nhóm người, để chỉ ra cách thức cá nhân đồng thời phát triển tâm lý tập thể trong mối quan hệ với những người khác. Thậm chí những thí nghiệm về thôi miên (rất thịnh hành ở thời Durkheim) đã dẫn đến những hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất, nhưng cũng là những mối nguy hiểm, của mối quan hệ giáo viên học sinh, cũng giống như mối quan hệ giữa người thôi miên và người bị thôi miên.
Có hai điểm đột phá trong lý thuyết của Durkheim: đó là ảnh hưởng “môi trường học đường” đối với việc giáo dục xã hội và giáo dục người công dân tương lai; Sự cần thiết đòi hỏi giáo viên phải phân biệt giữa sự buông thả không phương hướng và sự lạm dụng quyền hạn của mình.
Phóng to |


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận